Tạp chí Tuyên giáo số 1
Việt Nam: tránh được khủng hoảng tài chính, đối mặt với những khó khăn kinh tế ( 13/1/2009)


 Vào giữa năm 2008, nhiều người đã dự báo “thảm họa tài chính” cho Việt Nam. Sáu tháng sau, thực tế cho thấy Việt Nam đã cải thiện được tình hình. Điều này đã được hãng tin Đức DPA (15/12/2008) xem là một thành công của Việt Nam trong năm 2008. Câu hỏi đặt ra là Việt Nam sẽ ứng phó thế nào với tác hại được dự báo là nặng nề hơn, từ cuộc khủng hoảng toàn cầu.

“Dù né được cuộc khủng hoảng tài chính trong nước, Việt Nam vẫn bị tổn thương“. Dưới tựa đề vừa nêu, hãng thông tấn Đức DPA đã tổng kết tình hình kinh tế Việt Nam năm 2008, nêu bật thành công của Việt Nam trong việc hóa giải nguy cơ khủng hoảng tài chính đến từ nạn lạm phát phi mã, nhưng đồng thời tự hỏi là Việt Nam sẽ làm thế nào để khắc phục tác hại đến từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Tác giả bài phân tích trước tiên đã ghi nhận dự đoán bi quan khá vội vã của một số định chế tài chính vào giữa năm 2008, khi tốc độ lạm phát tại Việt Nam tăng nhanh đều đặn.

Ba định chế dự báo thảm họa đều bị khủng hoảng

Ngày 28/5, một chuyên gia phân tích ngoại hối của ngân hàng Mỹ Morgan Stanley đã tung ra một báo cáo gây chấn động tại Việt Nam . Theo báo cáo này, với nạn lạm phát và thâm hụt mậu dịch tăng vọt, đồng tiền Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng, tỷ giá đồng bạc Việt Nam so với đồng đô la sẽ rơi mạnh trong vòng 12 tháng, xuống còn 23.000 đồng đổi lấy một đô la, cao hơn 50% giá chính thức là 16.600 đồng. Theo báo cáo này, nếu Việt Nam không nhanh chóng để cho đồng tiền của mình giảm giá, thì đồng bạc Việt Nam sẽ có thể sụp đổ vào cuối năm.

Báo cáo của Morgan Stanley nằm trong một loạt những dự báo đen tối về Việt Nam tung ra vào giữa năm. Ngân hàng Đức Deutshe Bank tiên đoán đồng bạc Việt Nam sẽ mất giá đến 30%; Ngân hàng Mỹ Merrill Lynch thì nói đến “một cú sốc lạm phát“ có thể dẫn đến hiện tượng thất thoát vốn ồ ạt. Nhìn lại các sự kiện diễn ra từ lúc đó đến nay, tác giả bài phân tích của hãng DPA nhận định một cách hóm hỉnh: “6 tháng sau, Merril Lynch đã phải tự bán mình cho ngân hàng Bank of America để tránh phá sản, trong lúc Morgan Stanley và Deutsche bank bị thua lỗ nặng đã phải cắt xén tiền lương lãnh đạo của họ. Còn Việt Nam, thì một mặt đã giảm được lạm phát, mặt khác bảo vệ được tiền đồng không suy sụp và vẫn giữ được mức giá của tháng 5”. Bài viết cho là “Việt Nam vẫn có một thái độ khiêm tốn của Khổng giáo, cho nên khó mà thấy lãnh đạo Việt Nam nói những điều như “đấy chúng tôi thì có lý, còn các anh thì lại vỡ nợ “.

Hơn nữa, cũng theo DPA, nỗ lực của Việt Nam trong việc chống lạm phát và đồng thời duy trì chính sách tiền tệ của mình, đã có dáng dấp của một tiền lệ về những kiểu chính quyền can thiệp mà người ta đang thấy lan tràn trong các nền kinh tế khác trên thế giới từ lúc đó đến nay. Thay vì phải đứng ngoài, không can dự vào việc điều hành ngành tài chính, ngược lại, chính phủ Việt Nam đã can thiệp rất mạnh trong lúc giới phân tích còn chưa nhất trí với nhau về hiệu qủa chung cuộc của các biện pháp này thì phương thức Việt Nam áp dụng đã tỏ ra đủ hiệu nghiệm đã tránh được một cuộc khủng hoảng tài chính trong nước. Vấn đề bây giờ chỉ còn là đối phó với khủng hoảng toàn cầu.

Bí quyết chống lạm phát tại Việt Nam

Khó khăn của Việt Nam khởi sự ngay từ đầu năm 2008. Trước đó, Việt Nam vẫn là con cưng của các nhà đầu tư thế giới, nhận được hơn 20 tỷ đô la tiền cam kết đầu tư trực tiếp mới trong năm 2007, với hơn 6 tỷ đã được giải ngân. Trong một nền kinh tế trị giá 80 tỷ đô la, khoản tiền như thế rất lớn.

Ngoại tệ đổ vào Việt Nam khiến đồng bạc tăng giá, đe đoạ sức cạnh tranh của các nhà xuất khẩu Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước đã hạ hối suất bằng cách tung tiền đồng mua lại đô la từ các ngân hàng. Điều nay đã khiến các ngân hàng thương mại Việt Nam tràn ngập tiền đồng, và họ lại đổ tiền ra thị trường, gây ra lạm phát.

Vào tháng 2, lạm phát tăng lên 15%, qua tháng 5, giá cả tăng 3,9% trong vòng 1 tháng. Giá cả tăng còn do giá dầu và lương thực thế giới tăng lên. Việt Nam, nước xuất khẩu gạo thứ nhì thế giới, cũng đã góp phần làm tình hình nghiêm trọng hơn, khi quyết định vào tháng 3 tạm ngừng xuất khẩu để bảo đảm an toàn lương thực trong nước. Giá gạo thế giới đã tăng gấp đôi.

Chính phủ Việt Nam đã tìm cách làm giảm giá, khống chế giá cả các mặt hàng cơ bản như dầu hoả và thép, nâng mức dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng để thu hồi lượng tiền dư, đồng thời nâng lãi suất, bước đầu lên 12% vào tháng 5, sau đó lên 14% vào tháng 6. Lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại lên đến 21%.

Cuối cùng thì chính phủ Việt Nam đã làm một việc mà nhiều chính phủ phương Tây có thể cho là kỳ quái. Đó là ra lệnh cho ngân hàng ngưng cho vay quá nhiều, đồng thời yêu cầu các công ty nhà nước ngưng chi tiền trong những vụ đầu cơ không liên quan gì đến hoạt động chính của họ;

Vấn đề chưa rõ ràng, theo DPA, là liệu pháp của chính phủ Việt Nam có kết quả đến đâu. Theo chuyên gia kinh tế Jonathan Pincus vào thời điểm đó, thì cách làm như trên thường nằm trong quan điểm truyền thống của Việt Nam, nhưng các nhà kinh tế cho là khó có thể chứng minh hiệu qủa. Tuy nhiên, cho dù có phải là vì các tập đoàn Nhà nước đã đáp ứng lời kếu gọi của chính phủ và giảm các chi tiêu không cần thiết, hay là vì giá lương thực và dầu hoả thế giới đã giảm đi, hoặc là lãi suất cao lên khiến tín dụng hiếm đi, dẫu sao thì trong thực tế, lạm phát bắt đầu giảm.

Trong tháng 9, lạm phát chỉ còn 0,2% trong 1 tháng. Qua tháng 10 và 11, giá cả đã giảm. Cách nay vài tháng, giới phân tích lo ngại về lạm phát phi mã, giờ đây họ lo sợ nguy cơ giảm phát. Vào tháng 6, dân chúng ồ ạt đi mua gạo, sợ giá cả tăng mạnh, bây giờ họ đi tìm giá hời, vì giá cả tiếp tục giảm từ tháng này sang tháng nọ.

Tín dụng khó khăn đã giúp Việt Nam giảm được thất thu thương mại.

Vào mùa hè, thâm hụt mậu dịch được ước tính 20 tỷ đô la cho năm 2008. Bây giờ người ta nói đến con số không đầy 17 tỷ đô la. Kìm hãm lạm phát, duy trì thâm hụt thương mại ở mức không quá cao, điều này đã giúp Việt Nam tránh được việc bị giới đầu tư mất tin tưởng hoàn toàn. Tỷ giá đồng tiền Việt Nam vẫn ở mức như vào tháng 5, tức khoảng 16.600 đồng một đô la

Nhiều áp lực mới

Nhưng với tác động của khủng hoảng tài chính thế giới, Việt Nam lại đứng trước nhiều sức ép mới, trong khi ngay trong ngôi nhà của mình vẫn còn nhiều vấn đề. Ông Võ Trí Thành, thuộc Viện Quản lý Kinh tế Trung ương nhận định: “Nói một cách nghiêm túc, Việt Nam chưa thật sự thoát khỏi bất ổn định kinh tế vĩ mô”.

Nhu cầu hàng xuất khẩu Việt Nam, đặc biệt những sản phẩm gỗ, bắt đầu giảm mạnh vào tháng 9 do kinh tế suy thoái ở Mỹ và Châu Âu.

Chính phủ Việt Nam đã đối phó với tình hình bằng cách nới lỏng tín dụng, giảm lãi suất xuống còn 10% và ra chỉ thị cho ngân hàng cho những nhà xuất khẩu nông sản vay vốn với lãi suất thấp.

Với chính sách tiền tệ được nới lỏng thì đồng bạc Việt Nam bắt đầu xuống giá trên thị trường chợ đen, 17.400 đồng ăn một đôla vào ngày 10-l2. Một báo cáo của công ty đầu tư VietNam Asset Management ghi nhận: chính suy nghĩ là đồng bạc Việt Nam sẽ phải giảm giá để hỗ trợ xuất khẩu đã khiến cho đồng tiền Việt Nam tuột giá trên thị trường chợ đen.

Ngoài ra, các ngân hàng Việt Nam cũng sẽ gặp nhiều rủi ro khi mà lợi tức khách hàng của họ, các nhà xuất khẩu, bị giảm sụt. Một bản báo cáo của PricewaterhouseCoopers cảnh báo: ngoài việc phải chịu tác động từ các khó khăn kinh tế vĩ mô, các ngân hàng Việt Nam còn phải chịu hậu quả các món nợ khó đòi trong quá khứ.

Năm 2009, Việt Nam sẽ phải trầy trật để tìm được nguồn đầu tư nước ngoài, đủ để bù đắp thiếu hụt trong cán cân thương mại. Khó khăn lớn nhất đến từ khủng hoảng tài chính thế giới, khiến cho ít ai hứng thú với việc đầu tư. Trong phần kết luận, bài tổng kết của hãng DPA nhận xét: “Khi nhìn lại năm 2008, có lẽ các nhà quan sát tình hình Việt Nam sẽ có lúc phải nghĩ rằng những lời tiên đoán của các bộ óc kinh tế nhất trong nền tài chính thế thế giới đã không chính xác bằng tiên liệu của chính quyền Cộng sản ở Hà Nội”. /.

 


Các bài trước
Tác giả : Trần Doãn. Đăng ngày: 13/1/2009
Các bài tiếp
Tác giả : PGS. TS Nguyễn Văn Nhật - Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam. Đăng ngày: 13/1/2009