Tư tưởng của Ph. Ăngghen về mâu thuẫn

Mâu thuẫn là một khái niệm quan trọng trong phép biện chứng. Trong Bút ký triết học V.I.Lênin đã chỉ ra vị trí quan trọng đó khi viết rằng: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng”, “Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất - trong những điều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng cách chuyển hoá lẫn nhau”, “Theo nghĩa đen, phép biện chứng là sự nghiên cứu mâu thuẫn ngay trong bản chất của các đối tượng[1]. Mặc dù không nói đến vị trí của khái niệm mâu thuẫn trong phép biện chứng nhưng Ph. Ăngghen đã bàn nhiều đến khái niệm này. Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, khi phê phán sự phê phán của Đuyrinh đối với tư tưởng mâu thuẫn, Ph.Ăngghen đã trình bày tóm tắt nội dung ba quy luật của phép biện chứng theo thứ tự từ quy luật mâu thuẫn đến quy luật lượng chất và sau cùng là quy luật phủ định của phủ định[2].

Cách xếp thứ tự này có thể không phải là ngẫu nhiên. Vì có thể cho rằng đối với Ph.Ăngghen quy luật mâu thuẫn (ông gọi là “quy luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập”
[3]) là quan trọng nhất trong ba quy luật của phép biện chứng.

Ph.Ăngghen không để lại một cuốn sách phổ thông về phép biện chứng nhưng đã “trình bày tính chất chung của phép biện chứng với tính cách là khoa học về các mối liên hệ trong sự đối lập với siêu hình học”[4]. Đối với phép siêu hình thì thuật ngữ mâu thuẫn được dùng để chỉ một tình trạng của tư duy, chứ không được dùng để chỉ những hiện tượng tồn tại trong hiện thực (tự nhiên và xã hội). Chẳng hạn, hiện tượng cản trở lẫn nhau, bài trừ lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau giữa người với người là hiện tượng tồn tại khách quan và phổ biến trong xã hội mà ai cũng có thể dễ dàng nhận thấy, những người siêu hình cũng thừa nhận có những hiện tượng này. Tuy nhiên, đối với họ thì mâu thuẫn (trong đó có mâu thuẫn xã hội) không tồn tại trong hiên thực, chỉ tồn tại trong tư duy và là biểu hiện của tư duy sai lầm. Mặc dù thừa nhận có hiện tượng cản trở lẫn nhận, bài trừ lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau giữa người với người, nhưng họ lại không gọi hiện tượng đó là mâu thuẫn. Có thể vì thế mà trong một sô từ điển tiếng Anh hiện nay tuy có thuật ngữ contracdition (mâu thuẫn), social conflict (xung đột xã hội) nhưng không hề có thuật ngữ social contracdition (mâu thuẫn xã hội).

Ph.Ăngghen, giống như Hêgen, thừa nhận mâu thuẫn tồn tại khách quan trong hiện thực và coi sự thừa nhận đó là nội dung cơ bản của phép biện chứng trong sự đối lập với siêu hình học. Điều này đã được Ph.Ăngghen nhiều lần khẳng định. Vậy, theo Ph.Ăngghen, mâu thuẫn là gì, tại sao cần phải thừa nhận mâu thuẫn, thừa nhận mâu thuẫn có phải là phủ nhận quy luật cấm mâu thuẫn của lôgíc hình thức hay không? Đấy là những vấn đề mà chúng ta cần phân tích để hiểu cụ thể hơn tư tưởng của ông.

Chúng ta hãy bắt đầu từ luận điểm sau đây của Ph.Ăngghen: "Đối với nhà siêu hình học thì những sự vật và sự phản ánh của chúng trong tư duy, tức là những khái niệm, đều là những đối tượng nghiên cứu riêng biệt, cố định, cứng đờ, vĩnh viễn, phải được xem xét cái này sau cái kia. Nhà siêu hình học suy nghĩ bằng những sự tương phản hoàn toàn trực tiếp; họ nói: "Có là có, không là không, ngoài cái đó ra chỉ là trò xảo quyệt". Đối với họ thì sự vật hoặc là tồn tại hoặc là không tồn tại, một sự vật không thể vừa là bản thân nó lại vừa là một sự vật khác. Cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau, nguyên nhân và kết quả cũng đối lập hẳn với nhau. Phương pháp tư duy ấy mới xem thì có vẻ là hoàn toàn có thể chấp nhận được, bởi vì nó là phương pháp của cái mà người ta gọi là lý trí lành mạnh của con người vốn có đối với cái gọi là lẽ phải thông thường. Nhưng lý trí lành mạnh của con người ta, tuy là một người bạn đường rất đáng kính trong bốn bức tường của sinh hoạt gia đình, cũng sẽ phải trải qua những cuộc phiêu liêu kỳ lạ nhất một khi nó mạo hiểm bước vào thế giới nghiên cứu rộng lớn"[5].

Nguyên lý của thế giới quan siêu hình (không biện chứng) theo Ph. Ăngghen, là nguyên lý đồng nhất. Ông viết: “Tính đồng nhất trừu tượng (a = a; và cả dưới hình thức phủ định: a không thể đồng thời vừa là a vừa không phải a), cũng không thể dùng được trong giới hữu cơ”, “Nguyên lý đòng nhất, theo nghĩa của siêu hình học cũ, là nguyên lý cơ bản của thế giới quan cũ: a = a. Mọi vật đều đồng nhất với bản thân. Mọi vật đều đã được coi như vĩnh viễn không thay đổi: hệ thống mặt trời, các tinh tú, các thể hữu cơ. Khoa học tự nhiên đã lần lượt bác bỏ từng điểm của nguyên lý ấy; nhưng trong lĩnh vực lý thuyết nó vẫn tiếp tục tồn tại và những kẻ bênh vực cái cũ luôn luôn đem nó đối lập với cái mới: “một vật không thể đồng thời vừa là bản thân lai vừa là cái khác với bản thân”[6].

Theo Ph.Ăngghen không chỉ hai công thức “a = a” và “a không thể đồng thời vừa là a vừa không phải a” mà cả công thức “hoặc là…hoặc là” cũng không thể dùng ở mọi nơi bất kỳ. Ông viết: “Hard and fast lines” (những đường ranh giới tuyệt đối nghiêm ngặt) “không thể dung hòa được với học thuyết tiến hóa. Ngay những đường ranh giới giữa những loài có xương sống với những loài không xương sống bây giờ cũng không có tính chất tuyệt đối nữa, giữa loài cá với loài lưỡng thê cũng vậy, giới hạn giữa loài chim với loài bò sát cũng dần dần biến mất”, “Cái hoặc là…hoặc là ngày càng trở nên không đủ”, “Phép biện chứng không còn biết đến hard and fast lines, đến những cái “ hoặc là … hoặc là” vô điều kiện và dùng ở mọi nơi, phép biện chứng làm cho những sự khác biệt siêu hình cố định chuyển hoá lẫn nhau, phép biện chứng thừa nhận, trong những trường hợp cần thiết, là bên cạnh cái “hoặc là … hoặc là” thì có cả cái “cả cái này lẫn cái kia” nữa, và thực hiện sự môi giới giữa các mặt đối lập - phép biện chứng là phương pháp tư duy cao nhất, thích hợp nhất với giai đoạn phát triển hiện nay của khoa học tự nhiên. Dĩ nhiên là đối với việc ứng dụng hàng ngày và đối với sự trao đổi nhỏ trong khoa học thì những phạm trụ siêu hình vẫn còn có tác dụng”[7].

Rõ ràng là, theo Ph. Ăngghen, người siêu hình nói "có là có, không là không”, “sự vật hoặc là tồn tại hoặc là không tồn tại, một sự vật không thể vừa là bản thân nó lại vừa là một sự vật khác”; còn người biện chứng thì phải nói ngược lại. Nhưng cụ thể nói ngược lại ở đây là nói như thế nào? Phải chăng người biện chứng cần phải nói: "có có thể vừa là có vừa là không”, “sự vật có thể vừa tồn tại vừa không tồn tại, một sự vật có thể vừa là bản thân nó lại vừa là một sự vật khác”? Nhiều người cho rằng tư duy đúng đắn phải tuân theo lôgíc học hình thức với quy luật cấm mâu thuẫn lôgíc, cách nói “nó vừa là nó vừa không phải là nó” vi phạm quy luật này và là cách nói không đúng. Vậy, cách nói như Ph. Ăngghen ở trên có trái với quy luật cấm mâu thuẫn lôgíc của lôgíc học hình thức mà chúng ta vẫn đang dạy phổ biến ở các trường đaị học hiện nay hay không? Nếu trái với với quy luật cấm mâu thuẫn lôgíc của lôgíc học hình thức thì lôgíc học hình thức có đúng không? Cách nói như Ph. Ăngghen là đúng hay nói như quy luật cấm mâu thuẫn lôgíc là đúng, hay cả hai cách nói này là đúng. Đây là những câu hỏi mà chúng ta không thể lảng tránh.

Việc thừa nhận mâu thuẫn, theo Ph.Ăngghen, có liên quan đến việc thừa nhận sự vận động của sự vật và mối liên hệ giữa các sự vật. Về điều này, Ph.Ăngghen viết: "Chừng nào chúng ta xem xét các sự vật như là đứng im và không có sinh khí, cái nào riêng cho cái ấy, cái này bên cạnh cái kia và cái này nối tiếp cái kia, thì chắc chắn là chúng ta không thấy được một mâu thuẫn nào trong các sự vật cả. Chúng ta tìm thấy trong đó một số những thuộc tính nào đó, có phần thì giống nhau, có phần lại khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau nữa, nhưng trong trường hợp chúng mâu thuẫn với nhau thì các thuộc tính đó được phân ra giữa những sự vật khác nhau và như thế là ngay trong những thuộc tính đó cũng không chứa đựng mâu thuẫn. Trong giới hạn của lĩnh vực xem xét này, chúng ta dùng phương pháp tư duy thông thường, phương pháp thông thường, phương pháp siêu hình, cũng có thể giải quyết được. Nhưng tình hình sẽ khác hẳn nếu chúng ta bắt đầu xem xét các sự vật trong sự vận động, sự biến đổi, sự sống, sự tác động lẫn nhau giữa chúng. Lúc đó, chúng ta sẽ lập tức gặp phải những mâu thuẫn. Bản thân vận động đã là một mâu thuẫn; ngay như sự di động một cách máy móc và đơn giản sở dĩ có thể thực hiện được, cũng chỉ là vì một vật trong cùng một lúc vừa ở nơi này lại vừa ở nơi khác, vừa ở cùng một chỗ lại vừa không ở chỗ đó. Và sự nảy sinh thường xuyêng và việc giải quyết đồng thời này- đó chính là sự vận động.

Như vậy là ở đây chúng ta có một mâu thuẫn “tồn tại một cách khách quan ở trong bản thân các sự vật và các quá trình và có thể bộc lộ ra dưới hình thức hữu hình”"[8].

Khi nói về một sự vật đang chuyển động, thông thường nhiều người nói: “một vật lúc này ở nơi này, lúc khác ở nơi khác, ở chỗ này thì không ở chỗ kia”. Trong khi đó theo Ph.Ăngghen cách nói đúng phải là: “một vật trong cùng một lúc vừa ở nơi này lại vừa ở nơi khác, vừa ở cùng một chỗ lại vừa không ở chỗ đó”. Vậy cách nói thông thường hay cách nói của Ph.Ăngghen là đúng? Có ý kiến cho rằng, cần phải xét lại luận đề “một vật thể vận động trong cùng một lúc vừa ở chỗ này vừa không ở chỗ đó”, vì luận đề này, không phù hợp với qui luật cấm mâu thuẫn của lôgíc học hình thức [9]. Cho đến nay nhiều người vẫn cho rằng cách nói thông thường là đúng, còn cách nói của Ph.Ăngghen như trên là không thể hiểu được.

Tóm lại, liên quan đến các luận điểm nói trên của Ph.Ăngghen đang có những cách hiểu sau đây. Thứ nhất, tuy Ph.Ăngghen không nói đến mâu thuẫn biện chứng hoặc mâu thuẫn lôgíc nhưng chúng ta cần phân biệt hai loại mâu thuẫn này. Mâu thuẫn mà Ph.Ăngghen nói cần được hiểu là mâu thuẫn biện chứng. Quy luật cấm mâu thuẫn của lôgíc học hình thức cần được hiểu là quy luật cấm mâu thuẫn lôgíc. Ph.Ăngghen thừa nhận có mâu thuẫn biện chứng và không phủ nhận tính đúng đắn tuyệt đối của quy luật cấm mâu thuẫn lôgíc của lôgíc học hình thức. Ph.Ăngghen phê phán phép siêu hình chứ không phê phán lôgíc học hình thức. Đối với Ph.Ăngghen, phép siêu hình có thể dùng được trong phạm vi “đối với việc ứng dụng hàng ngày và đối với sự trao đổi nhỏ trong khoa học”, chứ không thể dùng được ở mọi nơi; còn phép biện chứng và lôgíc học hình thức thì dùng được ở mọi nơi. Quan điểm đó của Ph.Ăngghen là đúng. Thứ hai, chỉ có một loại mâu thuẫn, vấn đề là có thừa nhận mâu thuẫn tồn tại khách quan hay không. Ph.Ăngghen thừa nhận mâu thuẫn tồn tại khách quan, không thừa nhận tính đúng đắn tuyệt đối của quy luật cấm mâu thuẫn của lôgíc học hình thức. Tuy vậy, Ph.Ăngghen vẫn thừa nhận có thể ứng dụng lôgíc học hình thức trong một phạm vi nhất định. Quan điểm đó của Ph.Ăngghen là đúng. Thứ ba, chỉ có một loại mâu thuẫn, vấn đề là có thừa nhận mâu thuẫn tồn tại khách quan hay không. Ph.Ăngghen thừa nhận mâu thuẫn tồn tại khách quan, không thừa nhận tính đúng đắn tuyệt đối của quy luật cấm mâu thuẫn của lôgíc học hình thức. Tuy vậy, Ph.Ăngghen vẫn thừa nhận có thể ứng dụng lôgíc học hình thức trong một phạm vi nhất định. Quan điểm đó của Ph.Ăngghen là không đúng.

Tình trạng đang có những cách hiểu khác nhau như trên chứng tỏ tính phức tạp của việc nghiên cứu tư tưởng về mâu thuẫn của Ph.Ăngghen và sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu tư tưởng đó. Nhận thức tính phức tạp này là cần thiết để giúp chúng ta khi trình bày phép biện chứng có thể tránh được tình trạng làm thô thiển quan điểm của triết học Mác –Lênin về vấn đề mâu thuẫn.

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà (*)
Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam


(*) Bài tham gia Hội thảo khoa học quốc gia “Ph.Ăngghen – Nhà lý luận lỗi lạc và chiến sĩ cách mạng vĩ đại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế”, ngày 27/11/2010

[1] V.I.Lênin : Toàn tập, t.24, Nxb Tiến bộ, M., 1981, tr.240,116,268.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.20, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 1994, tr171-203.

[3] Sđd, tr. 510.

[4] Sđd, tr. 510

[5] Sđd, tr.36-37.

[6] Sđd, tr. 698-700.

[7] Sđd, tr. 696.

[8] Sđd, tr.172

[9] Xem: M. M. Rodentan: Nguyên lý của logic biện chứng. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1962, tr.460.

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Tin mới nhất

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về kết quả phân giới, cắm mốc Việt Nam-Campuchia

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về kết quả phân giới, cắm mốc Việt Nam-Campuchia

(TG) - Tại tọa đàm, các đại biểu đã kiến nghị một số ý kiến trong công tác tuyên truyền, triển khai công tác phân giới, cắm mốc Việt Nam-Campuchia như cơ quan thường trực phân giới, cắm mốc cần phối hợp với các bộ, ngành, địa phương chủ động xây dựng kế hoạch, định hướng cụ thể phương án giải quyết các điểm nhạy cảm trên biên giới.