Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam

Đảng của một dân tộc yêu nước

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã mang trong mình tính thống nhất giữa yếu tố dân tộc và giai cấp. Cương lĩnh đầu tiên (1930) của Đảng xác định: “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu, để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”­1. Để tập hợp toàn dân tộc vào cuộc đấu tranh giành độc lập tự do, Hồ Chí Minh nói: “Hồ Chí minh có thể theo chủ nghĩa Các Mác hay có thể theo đạo Khổng, nhưng Chính phủ Việt Nam vẫn gồm đại biểu của mọi Đảng phái và có cả những người không đảng phái”2. Đại hội lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951), Đảng ta khẳng định: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Tư tưởng ấy đã hiệu triệu, đoàn kết được toàn thể dân tộc Việt Nam vào cuộc đấu tranh giải phóng và xây dựng xã hội Việt Nam mới. Trong đó, sức mạnh lớn nhất của dân tộc được kết tinh từ tinh thần ái quốc luôn được Đảng phát huy để thực hiện trọng trách lịch sử dân tộc giao cho.
Cũng thật hiếm có ở đâu trên thế giới lại có một Đảng chính trị được nhân dân toàn dân tộc yêu mến, suy tôn, coi Đảng là của chính mình như Đảng Cộng sản Việt Nam. Hai tiếng “Đảng ta” đã trở thành niềm tin yêu, niềm tự hào và khát vọng của mỗi người dân yêu nước Việt Nam. Trong quá trình xây dựng và phát triển, Đảng đã kết tụ được tinh hoa, trí tuệ của cả dân tộc, đoàn kết “cả cộng sản và không cộng sản”, phá tan xiềng xích nô lệ, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và giải phóng xã hội.

Ngoài lợi ích của giai cấp, của dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác
Ngay từ những buổi đầu truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị cho quá trình thành lập Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong tác phẩm Đường cách mệnh (viết năm 1927) đã chỉ ra rằng: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm đến nơi, nghĩa là làm sao cách mạng rồi thì quyền lợi giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một số ít người”3. Có nghĩa là Đảng tổ chức, tập hợp đoàn kết dân tộc dưới ngọn cờ của Đảng để đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc, của giai cấp và của toàn thể nhân dân. Trước hết, “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến phản động”, “làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”. Sau đó, “dựng ra chính phủ công - nông - binh”, hình thành “một nước Việt Nam mới” mà tất cả quyền lợi đều thuộc về nhân dân, của dân, do dân và vì dân. Đó là mục tiêu cao cả của Đảng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối cách mạng Việt Nam.
Chính điều đó đã tạo nên sự khác biệt lớn của Đảng ta, của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh so với các đảng chính trị khác trên thế giới. Lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam được đặt trên hết, trước hết là lợi ích của dân tộc, bởi “nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn phải chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”4. Khi dân tộc giải phóng rồi thì “quyền lợi phải thuộc về tay dân chúng số nhiều”. Hồ Chí Minh nói: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do độc lập cũng không có nghĩa lý gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no mặc đủ”5. Nói như vậy, không có nghĩa là Đảng ta xa rời lợi ích và bản chất giai cấp của Đảng, mà trái lại chính tư tưởng đó thể hiện sâu sắc quan điểm giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin và càng làm tăng thêm động lực cách mạng của Đảng, đúng như Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời là Đảng của dân tộc không thiên tư, thiên vị… Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”6. Đó là thông điệp của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Hồ Chí Minh được thể hiện trong đường lối cách mạng Việt Nam. Đó cũng là điểm mấu chốt quan trọng nhằm đảm bảo thắng lợi và phát huy thành quả cách mạng trong công cuộc xây dựng đất nước, tất cả vì mục tiêu con người.
Trong lãnh đạo, Đảng có lúc cũng phạm phải sai lầm, khuyết điểm “có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan”7; trong Đảng có một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, không giữ được bản chất giai cấp và tính tiên phong, gương mẫu của Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách thấu đáo thực tiễn cách mạng Việt Nam trong 82 năm qua, thì ở mọi thời điểm, mọi giai đoạn lịch sử, lúc Tổ quốc bị lâm nguy hay khi đất nước có hòa bình, Đảng Cộng sản Việt Nam đều tỏ rõ bản chất chính trị của Đảng, gánh vác sứ mệnh lịch sử được Tổ quốc, dân tộc và nhân dân giao cho.
Thực tiễn mấy chục năm qua cho thấy, trong điều kiện đất nước và bối cảnh quốc tế luôn biến động và có nhiều thách thức lớn, có lúc sự nghiệp cách mạng như “ngàn cân treo sợi tóc” chỉ “sai một ly là đi một dặm”, thì Đảng vẫn bền gan, bền trí, “tự sửa đổi mình” tiếp tục sự nghiệp lãnh đạo của Đảng. Sự gương mẫu, tính tiên phong, tư duy sáng tạo, sự hy sinh quên mình vì nhân dân, vì đất nước, vì dân tộc của hàng triệu cán bộ, đảng viên trong chiến đấu, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là minh chứng không thể phủ nhận: “ngoài lợi ích của giai cấp, lợi ích của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác”.
Để giữ vững bản chất ấy, Đảng thường xuyên đề cao công tác xây dựng Đảng, chú trọng giám sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên; xử lý nghiêm các tổ chức và cá nhân có sai phạm; kỷ luật và đưa ra khỏi Đảng những cán bộ đảng viên suy thoái về phẩm chất, đạo đức, trong đó có nhiều vụ nghiêm trọng đã khởi tố ra pháp luật. Điều đó, thể hiện rõ bản chất của Đảng, đảm bảo cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Đảng luôn hoàn thành sứ mệnh lịch sử được dân tộc giao phó
Từ ngày có Đảng - do Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện – cách mạng Việt Nam có người lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt đã giành được những thắng lợi vĩ đại, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Đó là thắng lợi thần kỳ của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do; đó là thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm giành độc lập, thống nhất Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, là Đại thắng mùa xuân năm 1975 với cuộc tổng tiến công và nổi dậy “thần tốc”, “táo bạo” thu giang sơn về một mối, "ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người Việt Nam, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX"; đó là những thắng lợi hết sức ngoạn mục của sự nghiệp đổi mới trong hơn 25 năm qua.
Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn thách thức, với nhiều biến động gay gắt, Đảng vẫn trung thành với lợi ích dân tộc, trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vượt qua sự bao vây cấm vận, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đứng vững và tiếp tục đi lên trong cơn chấn động chính trị dữ dội trên thế giới (những năm 1989 - 1991), cơn khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế ở khu vực (những năm 1997 - 1998) và trên phạm vi toàn cầu trong những năm gần đây.
Thành công ấy đã làm cho vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, hội nhập quốc tế ngày càng có hiệu quả, khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xứng đáng là "đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc"8 trên một tầm cao trí tuệ mới.
Đây là sự thật lịch sử, dẫu thiện chí hay không, cũng không ai có thể bác bỏ được. Hình ảnh Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khắc ghi sâu đậm, đọng mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và lan toả trong lòng nhân dân thế giới.
Trong “cuộc chiến đấu khổng lồ” này, có lúc Đảng phạm phải những sai lầm, khuyết điểm là điều không thể tránh khỏi. Điều quan trọng là Đảng thấy rõ khuyết điểm và đã dũng cảm phê bình, sửa chữa khuyết điểm, thường xuyên “chỉnh đốn Đảng” . Cho đến nay, số đông đảng viên mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ chủ chốt từ trung ương đến cơ sở vẫn giữ vững phẩm chất chính trị, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, phấn đấu thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng, đóng góp công sức, trí tuệ cho sự nghiệp cách mạng chung của đất nước. Trong cuộc đấu tranh gian khó này đã tạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam một ý thức sâu sắc về dân tộc mà Đảng luôn lấy đó làm mục tiêu và nghĩa vụ cao cả.
Mùa Xuân này, Đảng ta và dân tộc ta phấn khởi và tự hào trước những thành quả sau một năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, càng tin tưởng và tự hào về một Đảng luôn biết “tự sửa mình” và đổi mới kịp thời vào những thời điểm quyết định, tạo nên những khâu “đột phá” để đưa dân tộc đi lên. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng vừa qua đã thống nhất về sự cần thiết phải ban hành Nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Một lần nữa, Đảng tiếp tục khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tính tiên phong của Đảng trước vận mệnh của đất nước. Lịch sử Đảng và lịch sử dân tộc ghi thêm những trang quan trọng vào “pho lịch sử bằng vàng”, đánh dấu sự trưởng thành của Đảng trong một thời kỳ chiến lược mới. Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ mãi mãi ngời sáng trong lòng nhân dân, trong lòng dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế.

TS. Nguyễn Thành Vinh

1. Hồ Chí Minh, toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995 tập 3, tr. 5
2. Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, tập 5, tr. 136.
3. Hồ Chí Minh, toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tập 1, tr 28.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, tập7, tr 113.
5. Hồ Chí Minh, toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tập 4, tr 152
6. Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, tập 5, tr 249.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr.64.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, sđd, tr.56.

 

                                                                   

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Tin mới nhất

Tin cùng chuyên mục