Quan hệ giữa văn hoá và kinh tế

1.Từ sự nhận thức mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế

Đánh giá thực trạng quan hệ giữa văn hóa và tăng trưởng kinh tế trên hai phương diện: một là, mối quan hệ giữa văn hóa với kinh tế, và hai là, văn hóa trong kinh tế. Ở phương diện thứ nhất, Đảng ta đánh giá “văn hóa chưa tương xứng với kinh tế”(1). Ở phương diện thứ hai, chúng ta dễ dàng nhận thấy yếu tố văn hóa còn mờ nhạt, vắng bóng trong tăng trưởng kinh tế. Biểu hiện rõ nét nhất là mô hình tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm qua chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, vốn đầu tư của nước ngoài và nguồn nhân công chất lượng thấp.

Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều, nhưng trước hết và căn bản là do lệch lạc trong nhận thức về văn hóa, cấu trúc của hệ thống văn hóa và mối quan hệ giữa văn hóa và tăng trưởng kinh tế.

Trong quan niệm về văn hóa, chưa thấy rõ các đặc trưng hay thuộc tính của văn hóa. Không ít những quan niệm đồng nghĩa văn hóa với học vấn hoặc theo cách hiểu văn hóa chỉ là “cờ, đèn, kèn, trống”, mà chưa thấy được những điều căn cốt của văn hóa.

Nói đến văn hóa, một đặc trưng căn bản là tính nhân sinh, tức gắn với con người. Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của văn hóa và là đại biểu mang giá trị văn hóa. Văn hóa là toàn bộ sáng tạo và phát minh của con người.

Văn hóa có tính hệ thống, bao gồm một phức hợp nhiều mặt, không chỉ là những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực và sáng tạo nghệ thuật, mà còn là tất cả những gì làm cho dân tộc này khác dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống, quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị về tư tưởng, đạo đức, lối sống.

Văn hóa có tính giá trị, có nghĩa “trở thành đẹp, có giá trị”. Văn hóa chứa cái đẹp, cái giá trị, là thước đo mức độ nhân bản của con người, cộng đồng và xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội và con người với môi trường thiên nhiên.

Văn hóa có bề dày lịch sử và tính dân tộc, thể hiện ở chỗ bao giờ nó cũng hình thành trong một quá trình lịch sử và được tích lũy qua nhiều thế hệ. Chúng ta thường nói đến truyền thống văn hóa là theo ý nghĩa đó.

Văn hóa có vai trò và sứ mệnh to lớn. Văn hóa là động lực của sự phát triển và nằm ngay trong quá trình phát triển. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân, làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành, một con người chưa hoàn thiện để phấn đấu không ngừng, vươn tới các giá trị về chân, thiện, mỹ.

Cuối cùng, nói đến văn hóa là nói đến phương thức sử dụng các công cụ sinh hoạt, bao gồm các công cụ sinh hoạt về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội. Chẳng hạn, cầu đường, cái ăn, cái mặc, nhà ở... là vật chất, thể hiện một trình độ văn minh nhất định, nhưng đi lại như thế nào được coi là văn hóa giao thông. Ăn, mặc, ở như thế nào là thuộc phạm trù văn hóa.

Nhà nước ra đời là một thành quả của cách mạng, dấu ấn của một trình độ văn minh. Nhưng nhà nước quản lý xã hội như thế nào lại thuộc phạm trù văn hóa, gọi là văn hóa quản lý. Đảng nắm chính quyền như một công cụ sinh hoạt về chính trị, là một nấc thang về văn minh, nhưng Đảng sử dụng quyền lực đó như thế nào lại thuộc phạm trù văn hóa chính trị, văn hóa lãnh đạo.

Nhận thức về cấu trúc của hệ thống văn hóa cũng còn những khác biệt. Theo cách nhìn truyền thống, văn hóa có cấu trúc hai phần rất đơn giản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, hay văn hóa vật thể và phi vật thể. L.White (2) chia văn hóa thành 3 tiểu hệ: công nghệ, xã hội và tư tưởng. Đào Duy Anh chia văn hóa thành ba bộ phận: sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt xã hội và sinh hoạt trí thức. Nhóm Văn Tân cũng chia văn hóa thành ba phần: văn hóa vật chất, văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần. M.S Kagan (3) chia văn hóa thành ba thành tố: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa nghệ thuật. Ngô Đức Thịnh quan niệm văn hóa có 4 thành tố: văn hóa sản xuất, văn hóa xã hội, văn hóa tư tưởng, văn hóa nghệ thuật. Trần Ngọc Thêm tiếp cận hệ thống, theo đó văn hóa bao gồm các yếu tố và các quan hệ. Hệ thống văn hóa đó bao gồm: 1) Văn hóa nhận thức. 2) Văn hóa tổ chức cộng đồng. 3) Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên. 4) Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội.

Có lẽ cách tiếp cận văn hóa như một hệ thống theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm nhận được nhiều sự đồng thuận bởi nó cho ta một nhận thức rõ hơn về vai trò, sứ mệnh của văn hóa. Mặt khác tránh được tranh luận không cần thiết về sự khác nhau và giống nhau giữa văn hóa xã hội (được hiểu là phong tục, tập quán, lễ hội...) với văn hóa tinh thần, văn hóa nghệ thuật.

Lệch lạc trong nhận thức về mối quan hệ giữa văn hóa và tăng trưởng kinh tế biểu hiện ở nhiều chiều cạnh khác nhau: 1) Trong đời sống xã hội, chỉ có duy nhất nền tảng vật chất là kinh tế. 2) Cứ kinh tế tăng trưởng cao, tất yếu kéo theo phát triển văn hóa. 3) Chỉ cần làm giàu, không cần quan tâm đến đời sống tinh thần, văn hóa. 4) Văn hóa là cái đuôi của kinh tế. Nghèo thì không thể sống đẹp. 5) Hiểu đơn giản một chiều câu tục ngữ “có thực mới vực được đạo”, mà không nhận thức được rằng, có thực chưa chắc đã có đạo hoặc thực nhiều nhưng đạo ít, thậm chí thực cực đại mà đạo cực tiểu. Chính vì vậy, đã có cảnh báo: “Hãy coi chừng! Nguy cơ đang tiềm ẩn trong tăng trưởng kinh tế, nguy cơ này nằm trong văn hóa”.

2. Cần một tư duy đột phá về mối quan hệ giữa văn hóa và tăng trưởng kinh tế

Văn hóa và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ đa chiều. Mỗi chiều cạnh của quan hệ này có thể phát huy khả năng của mình, nhưng các chiều cạnh đó lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, cùng lúc phát huy nhiều năng lực khác nhau.

1) Văn hóa phát triển trên nền tảng kinh tế. Đây là luận điểm thuộc dòng lý luận mácxít về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng được chấp nhận từ xưa đến nay.

2) Văn hóa tác động trở lại kinh tế. Luận điểm này cũng thuộc nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về tính chủ động của văn hóa, vai trò động lực và ảnh hưởng ngược lại của văn hóa đối với kinh tế. Với luận điểm này, văn hóa thể hiện trước hết thông qua chức năng xây dựng con người, bồi dưỡng nguồn lực con người về trí tuệ và tâm hồn, năng lực, sự thành thạo, tài năng, đạo đức, nhân cách, lối sống của cá nhân và cộng đồng. Thiếu một nền tảng tinh thần tiến bộ, lành mạnh sẽ không có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

3) Văn hóa là mục tiêu của kinh tế, vì phát triển kinh tế để phát triển con người. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, con người được hạnh phúc và phát triển toàn diện. Vì vậy, văn hóa đóng vai trò là mục tiêu trước mắt và lâu dài của sự phát triển kinh tế.

4) Văn hóa không thể đứng ngoài mà ở trong kinh tế. Trong kinh tế có văn hóa tức là văn hóa nằm ngay trong từng bước phát triển kinh tế, là nguồn lực bên trong của kinh tế.

5) Văn hóa đặt lên hàng đầu của tiến trình phát triển. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, văn hóa, tư tưởng không phụ thuộc một cách máy móc vào điều kiện sinh hoạt vật chất, vào mức sống, mà có khi cách mạng tư tưởng - văn hóa phải đi trước một bước để dọn đường cho cách mạng công nghiệp, theo tinh thần “văn hóa soi đường cho quốc dân đi, văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ”. Trả lời câu hỏi của phóng viên báo Luymanitê (Pháp) về nhân tố nào sẽ biến nước Việt Nam lạc hậu thành một nước tiên tiến, Hồ Chí Minh đã nói: “Có lẽ cần phải để lên hàng đầu những cố gắng của chúng tôi nhằm phát triển văn hóa. Chủ nghĩa thực dân đã kìm hãm nhân dân chúng tôi trong vòng ngu muội để chúng dễ áp bức. Nền văn hóa nảy nở hiện thời là điều kiện cho nhân dân chúng tôi tiến bộ... Chính vì vậy chúng tôi đã đào tạo nhanh chóng các cán bộ cho tất cả các ngành hoạt động... để công nghiệp hóa đất nước” (4).

6) Văn hóa có tính độc lập tương đối, đứng ngoài kinh tế, không phụ thuộc vào kinh tế, có khi phát huy sức mạnh tỷ lệ nghịch với sức mạnh kinh tế. Bằng chứng rõ rệt của luận điểm này là trong điều kiện của một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, thắng lợi của cách mạng, kháng chiến là thắng lợi của văn hóa Việt Nam, của con người Việt Nam. Thời kỳ Cách mạng Tháng Tám, nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và chống Mỹ, cứu nước, bộ đội ta “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”. Sức mạnh của quân đội và nhân dân ta là ở tâm lý với nội dung độc lập, tự cường; ở luân lý với nội dung biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng; ở xã hội với nội dung mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội; ở chính trị với nội dung quyền công dân. Với nhận thức như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, “chúng ta đem tinh thần mà chiến thắng vật chất, chúng ta vì nước, vì dân mà chịu khổ, một cái khổ rất có giá trị, thì vật chất càng khổ tinh thần càng sướng” (5).

Trên cơ sở nhận thức đầy đủ, sâu sắc các chiều cạnh của mối quan hệ văn hóa với kinh tế, chúng ta cần có tư duy đột phá.

Trước hết, cần nhận thức sâu sắc 3 trụ cột của phát triển bền vững, đó là bền vững về kinh tế, bền vững về các vấn đề văn hóa - xã hội, bền vững về môi trường. Phát triển bền vững là chăm lo cho thế hệ hiện tại nhưng không ảnh hưởng đến thế hệ tương lai. Nhận thức như vậy để thấy rằng không thể chấp nhận tư duy tăng trưởng “nóng” không dựa vào động lực văn hóa. Chính văn hóa và các vấn đề xã hội vừa là động lực vừa là mục tiêu của tăng trưởng kinh tế. Không dựa vào tố chất văn hóa mà hàng đầu là nguồn lực con người chất lượng cao, không thể có phát triển bền vững. Vấn đề không phải tăng trưởng đến mức nào mà tăng trưởng bằng cách nào. Cấu trúc lại mô hình tăng trưởng bằng cách kết hợp tăng trưởng theo chiều rộng với tăng trưởng theo chiều sâu là một tư duy về vai trò của văn hóa trong tăng trưởng kinh tế. Bởi vì trong tăng trưởng theo chiều sâu có nhân tố nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ.

Thứ hai, nhận thức sâu sắc, toàn diện vai trò mục tiêu và động lực của văn hóa. Văn hóa là mục tiêu bởi xét đến cùng tất cả vì con người phát triển toàn diện. Người ta lấy tiêu chí văn hóa để đánh giá sự phát triển của đất nước. Xét đến cùng, sự phát triển của đất nước là sự thăng hoa của văn hóa.

Văn hóa là động lực phải được hiểu theo hai chiều thuận và nghịch. Nếu hiểu theo cách thông thường thì bàn đến động lực là nói đến vai trò thúc đẩy của văn hóa. Đây là trong trường hợp biết phát huy các giá trị của văn hóa. Nhưng hiểu theo chiều cạnh thứ hai, thì mặt trái của văn hóa chính là cản lực của phát triển kinh tế. Nếu con người thiếu trí tuệ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, lãng phí, tham ô, sẽ kìm hãm sự phát triển. Người ta gọi văn hóa là “cái phanh” của tăng trưởng kinh tế theo ý nghĩa đó. Cái phanh văn hóa sẽ hạn chế cái đầu tăng trưởng nóng.

Thứ ba, không thể không quan tâm đến phát triển kinh tế, nhưng điều đáng sợ nhất không phải là suy giảm kinh tế mà là suy giảm văn hóa. Những “cục máu đông” về kinh tế như bất động sản, nợ xấu của ngân hàng không đáng sợ bằng những “cục máu đông” về văn hóa như suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí. “Cục máu đông” về văn hóa làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, thách thức vai trò lãnh đạo của Đảng, liên quan đến sự mất còn của Đảng, của chế độ. Cách đây gần nửa thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng. Không sợ nghèo chỉ sợ lòng dân không yên”. Ngày nay, thế giới nói nhiều đến nguy cơ từ sự nghèo khó về văn hóa. Suy giảm về kinh tế có thể chỉ mất vài ba chục năm để lấy lại đà tăng trưởng, nhưng suy thoái về văn hóa thì đây là một cuộc chiến đấu gian khổ, quyết liệt, lâu dài.

Thứ tư, Việt Nam đang sải bước cùng thời đại. Vì vậy, nghiên cứu sự phát triển Việt Nam phải gắn với xu thế của thời đại. Hiện nay nhiều nước trên thế giới đã thức tỉnh sau nhiều năm say sưa với tăng trưởng nóng, bất chấp văn hóa. Có hai tiêu chí đánh giá sự phát triển của một nước. Tiêu chí hiện đại dựa vào tăng trưởng kinh tế, giàu có và sự phát triển khoa học công nghệ. Tiêu chí tiến bộ dựa vào các giá trị nhân văn, văn hóa, đạo đức, một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sinh thái, quan tâm đến mọi thành viên của xã hội. Tiêu chí hiện đại là cơ sở, tiêu chí tiến bộ là mục tiêu.

Một điểm nổi bật của thế giới ngày nay là chú trọng đến “sức mạnh mềm”, đó là sức mạnh tinh thần, tư tưởng, văn hóa. Người ta quan tâm đến sự cạnh tranh về văn hóa, đầu tư về văn hóa như phát triển nền công nghiệp văn hóa, kinh tế văn hóa, thị trường văn hóa. Không thể bỏ qua nhịp bước và tư duy về sự phát triển của nhân loại, của thời đại trong thế giới toàn cầu. Bởi vì đây là những vấn đề thuộc về quy luật tiến hóa của nhân loại. Không quan tâm đến văn hóa là đánh mất chính mình, đánh mất động lực và mất phương hướng, mục tiêu của phát triển.

PGS.TS Bùi Đình Phong
-----------------------

(1). ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.169.

(2). L.White là nhà nghiên cứu văn hóa người Mỹ, cha đẻ của Thuyết tiến hóa mới (1940)

(3). M.S.Kagan là một học giả nghiên cứu về văn hóa nổi tiếng của Xô Viết

(4). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, t.10, tr.392.

(5). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.148.

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Tin mới nhất

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật

Thắng lợi của cách mạng tháng Mười – giá trị to lớn làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Thắng lợi của cách mạng tháng Mười – giá trị to lớn làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam

(TG)-Cách mạng Tháng Mười (CMTM) Nga do giai cấp vô sản tiến hành thắng lợi đã mở ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử phát triển của nhân loại, mở đầu thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới; đồng thời làm thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, bóc lột đứng lên làm cách mạng tự giải phóng mình và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt CMTM có ý nghĩa to lớn làm lên thắng lợi của cách mạng Việt Nam.