Tôn Đức Thắng - người cộng sản kiên cường, mẫu mực, biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc

Đồng chí Tôn Đức Thắng quê ở xã Mỹ Hoà Hưng, tổng Định Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Đồng chí thuộc lớp chiến sĩ cách mạng tiền bối của Đảng, một người cộng sản kiên cường, mẫu mực, một nhà lãnh đạo kính mến của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, người bạn chiến đấu thân thiết và lâu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí gắn liền với lịch sử vẻ vang của Đảng ta và của cách mạng Việt Nam.

Thuở nhỏ, cậu Hai Thắng (tên thường gọi của Tôn Đức Thắng khi còn nhỏ) học ở quê nhà. Năm 1907, anh từ biệt quê hương Long Xuyên lên học nghề thợ ở Sài Gòn. Việc anh chọn cho mình cách học riêng thể hiện khát vọng và ý chí tự lập, tự chủ lớn. Thoạt đầu, anh làm công cho các gara, đềpô. Năm 1910, anh vào làm công nhân ở hãng Krupp, anh đã đến với giai cấp công nhân Việt Nam đang trong quá trình hình thành. Là một người thợ, anh đã chứng kiến sự bóc lột tàn bạo của bọn chủ đối với công nhân và đồng cảm với cảnh ngộ của họ. Từ nhận thức đó, anh sớm tham gia những hoạt động yêu nước, những cuộc vận động học sinh lính thuỷ bãi khoá, công nhân Sở Kiến trúc chống bọn cai ký cúp phạt, đòi tăng lương, giảm giờ làm. Năm 1912, anh tham gia tổ chức cuộc vận động công nhân Ba Son bãi công và học sinh Trường Bách Nghệ bãi khoá giành thắng lợi. Qua đấu tranh, anh có thêm kinh nghiệm trong việc vận động đoàn kết, tập hợp công nhân đấu tranh chống bọn tư bản, thực dân; đồng thời cho anh nhận thức về sức mạnh của giai cấp công nhân khi được tổ chức. Đây là mốc đánh dấu việc kết hợp tinh thần yêu nước với tinh thần cách mạng của người thanh niên yêu nước Tôn Đức Thắng.

Để trở thành một người thợ lành nghề phải được đào tạo chính quy và có điều kiện tiếp xúc với máy móc hiện đại, Tôn Đức Thắng quyết định vào học Trường Bách Nghệ Sài Gòn. Ở trường, anh nhiệt tình giúp đỡ bạn bè tránh những sai sót, hư hỏng. Với chủ, khi phải đấu tranh, anh tập hợp tất cả bạn bè đồng tâm hiệp lực đấu tranh đến cùng khi đạt được yêu cầu, nguyện vọng mới thôi. Qua các cuộc đấu tranh ở Trường Bách Nghệ đã củng cố thêm cho anh nhận thức về sức mạnh đoàn kết của công nhân và anh em học sinh. Học ở Trường Bách Nghệ không lâu, ở anh đã bộc lộ năng khiếu tổ chức và vai trò của người đi đầu, là trung tâm đoàn kết. Nói về phẩm chất này, giáo sư Trần Văn Giàu cho biết: “Lên Sài Gòn, làm một anh học trò nhỏ, nhỏ con và nhỏ tuổi, Tôn Đức Thắng đã tỏ ra ngay là một cậu có năng lực tổ chức và tinh thần đấu tranh. Thắng hay bênh vực kẻ yếu, chống mọi sự hiếp đáp, mọi sự bất bình, tính hoà nhã vui vẻ, nên được các bạn mến, lại học giỏi” (1).

Đang học năm thứ hai Trường Bách Nghệ, vào tháng 9-1916, Tôn Đức Thắng bị chính quyền thuộc địa xung vào đội quân lính thợ xuống tàu đi Pháp. Anh bị điều đến quân cảng Tulông, làm việc trên Chiến hạm France với công việc của người thợ máy. Trên tàu, anh hoà mình vào cuộc sống của những người lao động, được sưởi ấm bằng tình đồng nghiệp mang tính quốc tế của giai cấp công nhân Pháp. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước đế quốc liên minh với nhau can thiệp vũ trang hòng bóp chết nước Nga Xôviết non trẻ. Ngày 19-4-1919, Chiến hạm France được lệnh tiến công Xêvaxtôpôn trên bờ Biển Đen. Tôn Đức Thắng cùng các thủy thủ trên tàu tham gia cuộc binh biến chống cuộc chiến tranh phản cách mạng của bọn đế quốc, góp phần bảo vệ nước Nga Xôviết - nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới. Lá cờ đỏ được kéo lên trên Chiến hạm France lúc 8 giờ sáng ngày 20-4-1919 là do Tôn Đức Thắng cùng với những người bạn trên tàu tiến hành. Đây là sự kiện quan trọng và có ý nghĩa quốc tế trong cuộc đời cách mạng của Tôn Đức Thắng, bởi anh là người Việt Nam đầu tiên biểu thị tinh thần quốc tế bằng hành động dũng cảm của mình tham gia bảo vệ nước Nga Xôviết, con đẻ của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Về sự kiện này, Tôn Đức Thắng viết một cách khiêm tốn: “Tôi tin rằng, bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào, nhất là công nhân, được tham gia vào những giờ phút lịch sử đó tại Biển Đen, không thể hành động khác tôi, bởi vì yêu Tổ quốc và căm thù đế quốc, cũng có nghĩa là yêu Cách mạng Tháng Mười và căm thù những kẻ chống lại Cách mạng Tháng Mười”(2).

Sau vụ phản chiến trên Biển Đen, Tôn Đức Thắng bị trục xuất khỏi nước Pháp và trở lại Sài Gòn giữa lúc cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp được đẩy mạnh và phong trào yêu nước với nhiều tư tưởng và đảng phái khác nhau đang diễn ra sôi động ở nước ta. Nhưng với sự hiểu biết về giai cấp và đấu tranh giai cấp, lại được trải nghiệm qua thực tiễn đấu tranh, anh quyết định cho mình hướng hoạt động trong phong trào công nhân, trực tiếp làm công nhân cho một hãng người Đức có tên là Kroff trên đường Sampanhơ. Vừa kiếm sống, anh vừa liên lạc với anh em công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp trong thành phố. Với lòng nhiệt tình yêu nước và có uy tín cao, vào năm 1920, Tôn Đức Thắng đã đoàn kết được anh em công nhân tổ chức ra Công hội bí mật do anh lãnh đạo. Đây là tổ chức Công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam mà anh là Hội trưởng. Những cơ sở đầu tiên của Công hội bí mật được hình thành ở cảng Sài Gòn, xưởng Ba Son, xưởng FACI, ở hai nhà máy đèn Sài Gòn và Chợ Quán, sau phát triển ra các cơ sở khác trong thành phố với số hội viên hơn 300 người. Tháng 8-1925, anh đã tổ chức và lãnh đạo cuộc bãi công của hơn 1.000 công nhân Ba Son thắng lợi, buộc bọn chủ phải tăng lương 10%. Tiếp đó, anh còn tổ chức cuộc lãn công trong ba tháng làm chậm việc sửa chữa Chiến hạm Misơlê trên đường đi đàn áp cách mạng Trung Quốc. Từ việc thành lập Công hội bí mật đến việc lãnh đạo thắng lợi cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son mở đầu cho giai đoạn mới của phong trào công nhân nước ta từ tự phát lên tự giác, thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế của công nhân Việt Nam. Điều đó nói lên vai trò, uy tín và đánh dấu bước chuyển biến quan trọng về tư tưởng chính trị theo khuynh hướng cách mạng vô sản của người thợ máy Tôn Đức Thắng.

Cũng vào thời gian đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Quảng Châu. Tháng 6-1925, Người sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nhằm huấn luyện các chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi rồi tung về nước gây dựng tổ chức và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin. Đầu năm 1927, tại Sài Gòn có cuộc gặp gỡ giữa Phan Trọng Bình, học trò của Nguyễn Ái Quốc đang tìm lực lượng để “gieo mầm cộng sản” và Tôn Đức Thắng, người lãnh đạo phong trào công nhân Sài Gòn đang khao khát tìm đường lối mới. Năm 1927, Tôn Đức Thắng tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển biến tư tưởng có tính chất quyết định từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin, tạo điều kiện cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân Sài Gòn do Tôn Đức Thắng tổ chức và lãnh đạo. Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Việt Nam đã khẳng định: Tổ chức Công hội mà Tôn Đức Thắng là người sáng lập là tổ chức tiền thân của Công đoàn Việt Nam, có vai trò quan trọng trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam vào những năm đầu cách mạng vô sản ở nước ta.

Trong những năm 1926-1928, Công hội Sài Gòn thực sự là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Sài Gòn và Nam Bộ. Đến giữa năm 1927, Kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Thanh niên được thành lập, Tôn Đức Thắng là Uỷ viên Ban Chấp hành. Tại Sài Gòn, Thành bộ cũng được tổ chức do Tôn Đức Thắng làm Bí thư. Đến năm 1929, toàn Nam Bộ đã có 19 cơ sở chi hội Thanh niên. Dưới sự lãnh đạo của Kỳ bộ Nam Kỳ, trong đó có sự đóng góp tích cực của Tôn Đức Thắng, phong trào công nhân Nam Kỳ phát triển mạnh. Chỉ tính hai năm 1926-1927, trong số 57 cuộc đấu tranh của công nhân cả nước thì phần lớn là những cuộc đấu tranh của công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn và các vùng phụ cận.

Chính vì thế, Sài Gòn được các tổ chức tiền thân của Đảng như Thanh niên, Tân Việt chọn làm địa bàn đứng chân, để từ đó toả đi các địa phương

Khu tưởng niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng 
thuộc xã Mỹ Hoà Hưng, Tp. Long Xuyên, tỉnh An Giang

 gây dựng cơ sở, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước, tiến tới thành lập Đảng. Tại Sài Gòn, quá trình kết hợp đó diễn ra thuận lợi với sự hoạt động tích cực của Công hội do Tôn Đức Thắng sáng lập. Có thể nói, Tôn Đức Thắng không chỉ là chiến sĩ tiên phong của phong trào công nhân mà còn là một trong những đảng viên lớp đầu tiên của Đảng, có đóng góp lớn trong cuộc vân động thành lập Đảng.


Vào những năm 1928-1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin ở Sài Gòn và Nam Bộ phát triển mạnh. Để đối phó lại, tháng 7-1929, chính quyền thực dân Pháp tiến hành đợt khủng bố, bắt các hội viên Kỳ bộ Nam Kỳ tại Sài Gòn, trong số đó có Tôn Đức Thắng. Hơn một năm bị giam tại Khám Lớn Sài Gòn, Tôn Đức Thắng luôn giữ vững khí tiết của người cộng sản, kiên cường chống lại sự khủng bố của kẻ thù, không tiết lộ tin tức về tổ chức, đồng thời, đồng chí còn động viên anh em trong tù tin tưởng vào tương lai tất thắng của cách mạng nước ta. Không khuất phục được tinh thần bất khuất của anh, Toà đại hình Pháp đã kết án Tôn Đức Thắng 20 năm khổ sai. Rạng sáng ngày 3-7-1930, bọn thực dân Pháp đưa Tôn Đức Thắng và nhiều chiến sĩ cách mạng ra đày tại Côn Đảo. Tại đây, anh tỏ rõ bản lĩnh của một chiến sĩ cộng sản kiên cường, trung kiên, bất khuất, đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù, thương yêu đồng chí cùng cảnh ngộ, luôn tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Cũng chính tại nơi đây, Tôn Đức Thắng đã tham gia thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở Côn Đảo và phụ trách Hội những người tù đỏ. Trong địa ngục trần gian Côn Đảo, Tôn Đức Thắng đã cùng các chiến sĩ cộng sản biến nhà tù thành trường học cách mạng. Chính sách khủng bố cực kỳ dã man và tàn bạo của kẻ thù tại lao tù như một thứ lửa thử vàng rèn luyện thêm phẩm chất kiên cường của người cộng sản Tôn Đức Thắng. Là một trong những chiến sĩ cùng bị tù ở Côn Đảo với Tôn Đức Thắng, đồng chí Lê Duẩn cho biết: “Đế quốc Pháp đã bắt giam, đoạ đày đồng chí 17 năm trời ở nhà ngục Côn Lôn với chế độ khổ sai, khi thì nhốt vào hầm xay lúa, khi thì nhốt vào hầm tối, tay chân bị xiềng xích, cùm kẹp, khi thì cho ăn lúa sống hoặc bỏ đói bỏ khát, nhưng tinh thần cách mạng kiên cường của đồng chí trước sau vẫn không chút lay chuyển. Trong nhà tù, đồng chí luôn nêu cao tấm lòng yêu nước và chí khí quật cường của người công nhân, luôn tin tưởng ở tương lai tươi sáng của dân tộc và của giai cấp, luôn vui vẻ và không bao giờ xao lãng công tác cách mạng”(3)
.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vừa thành công, theo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Nam Bộ cử đoàn ra đón các chiến sĩ cách mạng ở Côn Đảo trở về đất liền, trong đó có Tôn Đức Thắng. Tại Hội nghị cán bộ toàn xứ Nam Kỳ ngày 15-10-1945, Tôn Đức Thắng được bầu vào Xứ uỷ, đã sát cánh cùng đồng chí, đồng đội lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Tháng 2-1946, đồng chí được điều động ra Hà Nội cùng với Trung ương Đảng và Bác Hồ chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá I, tháng 3-1946, đồng chí được bầu là Uỷ viên chính thức Ban Thường trực Quốc hội. Tiếp đó, tháng 4-1946, đồng chí tham gia đoàn đại biểu Quốc hội nước ta với cương vị Phó trưởng đoàn sang thăm nước Pháp theo lời mời của Quốc hội Pháp. Trên đất Pháp, đồng chí cùng đoàn ta tiếp xúc với các chính khách Pháp, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân Pháp làm cho họ hiểu rõ hơn thiện chí hoà bình của Việt Nam, về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta, thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Pháp.

Tháng 5-1946, với tư cách là thành viên trong ban sáng lập, Tôn Đức Thắng đã khẩn trương chuẩn bị mọi mặt và có những đóng góp quan trọng cho sự ra đời của Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) - một tổ chức đoàn kết rộng rãi mọi cá nhân và đảng phái yêu nước trong mặt trận đoàn kết dân tộc, mà đồng chí là Phó hội trưởng. Với cương vị mới, người lãnh đạo mặt trận dân tộc thống nhất, Tôn Đức Thắng đã đem hết sức lực, trí tuệ và nhiệt tình cống hiến cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội tháng 11-1946, đồng chí được bầu là Phó trưởng ban Thường trực Quốc hội. Trong diễn văn bế mạc kỳ họp, đồng chí nhấn mạnh: “Nếu ai có thành kiến của giai cấp, của đảng phái, của tôn giáo thì đến trong phòng này... cũng đã để lòng nghe theo một tiếng gọi cao cả và thiêng liêng hơn cả bấy nhiêu tiếng gọi lúc thường: tiếng gọi của Tổ quốc. Cái không khí ấy đã hoàn toàn phản chiếu được tình trạng chung của đất nước, tình trạng thống nhất ý chí và hành động”(4).

Với uy tín lớn lao trong Đảng và trong nhân dân, với phẩm chất và đạo đức cách mạng trong sáng của người chiến sĩ cộng sản, đồng chí Tôn Đức Thắng được giao nhiều trọng trách và đều hoàn thành xuất sắc trong chín năm kháng chiến chống Pháp: Tổng Thanh tra Chính phủ, Quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban Thi đua ái quốc Trung ương, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Chủ tịch Uỷ ban Liên Việt toàn quốc (từ 3-1951 đến 9-1955), Hội trưởng Hội Hữu nghị Việt –Xô, liên tục là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ khoá II đến lúc từ trần (1980).

20 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng là 20 năm đồng chí liên tục được đại diện các tầng lớp nhân dân suy tôn làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (9-1955 – 2-1977) và Chủ tịch danh dự Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến ngày đồng chí qua đời. Cũng trong thời gian này đồng chí còn đảm nhận các chức vụ: Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch danh dự Uỷ ban Bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng Hoà bình thế giới. Ngày 15-7-1960, đồng chí được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, đồng chí được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước, đồng thời kiêm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để cùng các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Mặt trận lãnh đạo, động viên nhân dân ta kiên cường chiến đấu, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, đất nước thống nhất.

Ở bất kỳ cương vị công tác nào, mặc dù tuổi cao, đồng chí Tôn Đức Thắng luôn nỗ lực phấn đấu quên mình để hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Đồng chí là hình ảnh tiêu biểu cho chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đồng chí hết lòng chăm lo đoàn kết đồng chí, đoàn kết đồng bào, đoàn kết cả dân tộc trong cuộc trường chinh vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng; suốt đời cần kiệm liêm chính, suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”.

Đồng chí Tôn Đức Thắng còn là chiến sĩ quốc tế, luôn chăm lo góp phần vun đắp và tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ trên thế giới, với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cống hiến lớn lao của đồng chí Tôn Đức Thắng cho nền độc lập dân tộc và hoà bình thế giới được bạn bè và nhân dân thế giới khâm phục và kính mến. Năm 1955, đồng chí là người Việt Nam đầu tiên được trao Giải thưởng Lênin Vì hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc, xứng đáng là chiến sĩ xuất sắc của phong trào hoà bình thế giới. Năm 1967, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 Cách mạng Tháng Mười, đồng chí được Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tặng thưởng Huân chương Lênin. Do những cống hiến to lớn của đồng chí với Tổ quốc và nhân dân, năm 1958, đồng chí được Quốc hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng Huân chương Sao vàng.

Trên 60 năm hoạt động cách mạng đầy gian lao và nguy hiểm, trong đó có 17 năm ròng bị đày đọa trong các nhà giam và địa ngục trần gian Côn Đảo với đủ mọi cực hình, 27 năm liên tục làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và hơn 10 năm làm Chủ tịch nước, đồng chí Tôn Đức Thắng đã để lại cho Đảng ta, Nhà nước ta nhiều bài học quý báu, cho giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam ta một tấm gương sáng về chuẩn mực của một người yêu nước, một chiến sĩ cộng sản kiên cường. Với cương vị là người lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Công đoàn và Mặt trận, đồng chí Tôn Đức Thắng là hình ảnh của khối đại đoàn kết dân tộc, nổi bật với đức tính khiêm tốn và lối sống giản dị. Chính phẩm chất cao quý ấy cùng với lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc và ý chí kiên cường, bất khuất trước kẻ thù của dân tộc, hình ảnh Tôn Đức Thắng đã in đậm trong trái tim mọi người Việt Nam yêu nước với sự ngưỡng mộ và kính phục. Đúng như Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta tại lễ truy điệu đồng chí Tôn Đức Thắng đã đánh giá: “Đồng chí là người tiêu biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh... Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng trung thành, tận tuỵ; về tinh thần anh dũng, bất khuất; về đức tính khiêm tốn, giản dị.

Kỷ niệm ngày sinh lần thứ 120 của đồng chí Tôn Đức Thắng giữa lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Noi gương Bác Tôn, mỗi người chúng ta hãy học tập đạo đức cách mạng, phong cách cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tận tuỵ với công việc được Đảng và nhân dân giao cho, làm cho sự nghiệp cách mạng nước ta và khối đại đoàn kết toàn dân mà Bác Hồ và Bác Tôn suốt đời vun đắp nở hoa, kết quả trên Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.

PGS, TS. Lê Văn Yên

(1) Sở Văn hóa Thông tin An Giang: Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888-1980), An Giang 1998, tr.81
(2) Báo Mapoc (Người thủy thủ), số 24, năm 1957 (tiếng Nga)

(3)Sở Văn hóa Thông tin An Giang: Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888-1980), An Giang 1998, tr.158
(4) Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946-1960), Nxb. CTQG Hà Nội 1994, tr.112

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Tin mới nhất

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi soi đường cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi soi đường cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta

(TG)- Đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định: Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kiệt tác của vị lãnh tụ thiên tài, một nhà cách mạng lỗi lạc có tầm nhìn xa trông rộng, một chiến sĩ cách mạng suốt đời trân trọng, yêu thương con người, phấn đấu vì tự do, hạnh phúc của con người.