Đồng Nai: Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống hạ tầng phục vụ nông thôn mới
Người lao động đóng gói nấm tại xã Xuân Bắc (huyện Xuân Lộc). Ảnh: B.Nguyên

Nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn nhận được sự quan tâm hàng đầu của Đảng xuyên suốt các thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong cả lý luận và thực tiễn, Đảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng, coi đó là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái, vì vậy, việc Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) ban hành Nghị quyết số 26 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn là một chủ trương rất đúng đắn, hợp lòng dân, đã được nhân dân hết sức đồng tình và hưởng ứng tích cực. 

Trên cơ sở Nghị quyết số 26 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, mặc dù là tỉnh công nghiệp với tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế rất thấp (chỉ còn 5%), nhưng Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu Quốc gia tỉnh luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, luôn chủ động, sáng tạo ban hành nhiều chủ trương, kế hoạch hành động, có cơ chế, chính sách đột phá, chỉ đạo đồng bộ, huy động cả hệ thống chính trị, mọi nguồn lực xã hội và sự chung tay, góp sức của các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới. Trong gần 9 năm qua, cả tỉnh Đồng Nai đã huy động được 376,9 nghìn tỷ (bình quân 2.834 tỷ đồng/xã, cao nhất cả nước); trong đó ngân sách nhà nước các cấp là 41,9 nghìn tỷ (bình quân 315 tỷ đồng/xã cao hơn nhiều so với mức bình quân cả nước 35 tỷ đồng/xã).

Đến tháng 8/2019, toàn tỉnh Đồng Nai có 100% số đơn vị cấp huyện đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, đưa Đồng Nai trở thành tỉnh đầu tiên của cả nước có 100% số xã và 100% đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Như vậy, tỉnh Đồng Nai đã vượt trước 2 năm so với mục tiêu phấn đấu đến 2020 được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 1865/QĐ-TTg ngày 23/11/2017 về việc giao kế hoạch thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020.

Với sự cố gắng, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự hưởng ứng, tích cực tham gia đóng góp sức người, sức của của các tầng lớp nhân dân, Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Đồng Nai đã đạt được những kết quả vượt bậc, làm cho bộ mặt nhiều vùng nông thôn khang trang, xanh, sạch, đẹp hơn; hạ tầng thiết yếu về giao thông, thủy lợi, văn hóa, y tế, giáo dục,… được quan tâm đầu tư, nâng cấp, xây dựng; sản xuất nông nghiệp của tỉnh tiếp tục phát triển bền vững, trong đó, đã xuất hiện những mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, tiêu biểu trên cả nước, mang lại hiệu quả kinh tế và thu nhập cao, với tốc độ tăng trưởng bình quân của giá trị sản xuất nông – lâm - thuỷ sản là 3,67%/năm trong giai đoạn 2010-2018, giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2018 đạt 228,8 triệu đồng/ha/năm. 

Là tỉnh công nghiệp, nhưng Đồng Nai đứng đầu cả nước về nhiều nhóm nông sản, như chăn nuôi lợn, nuôi gà, cây xoài, tiêu, sầu riêng, bưởi…. Đồng Nai cũng tập trung đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, có gần 80% diện tích đất sản xuất nông nghiệp có ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, công nghiệp tưới tiên tiết, tiết kiệm nước bón phân qua đường ống cho diện tích 46 nghìn ha, chiếm 33% tổng diện tích có nhu cầu áp dụng trên địa bàn tỉnh.  

Nhờ vậy, thu nhập bình quân của người dân nông thôn tăng nhanh và đạt 51,61 triệu đồng/người/năm trong năm 2018 (tăng 2,78 lần so với năm 2010) và ước đạt 55,6 triệu đồng/người năm 2019, đưa Đồng Nai trở thành một trong 5 tỉnh, thành phố có thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn cao nhất cả nước; số hộ nghèo giảm nhanh, trong đó có nhiều huyện chỉ còn dưới 0,1% hộ nghèo; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn từng bước được cải thiện. 

Sự nghiêp phát triển giáo dục, y tế, văn hoá vùng nông thôn có nhiều chuyển biến rõ nét; tỉnh Đồng Nai có nhiều mô hình thành công về xã hội hoá các khu vui chơi – thể thao cấp xã, thôn/bản. Đồng Nai cũng ưu tiên và huy động nhiều nguồn lực cho bảo vệ môi trường, đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường. Đến nay 100% các xã có tổ chức thu gom rác thải sinh hoạt, tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn đạt 98% (cao nhất cả nước). Tỉnh Đồng Nai đã thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư các nhà máy xử lý rác thải tập trung (như tại huyện Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Cẩm Mỹ, Trảng Bom…). Hệ thống chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố, xuất hiện 42 mô hình tự quản về an ninh trật tự với các mô hình có hiệu quả thiết thực như: tiếng kẻng an ninh, thức cho dân ngủ, câu lạc bộ hoàn ương, mô hình Quỹ doanh nhân với an ninh trật tư. Những kết quả đó đã góp phần làm thay đổi căn bản diện mạo nông thôn của tỉnh, từng bước làm giảm khoảng cách chênh lệch giữa phát triển vùng nông thôn với vùng đô thị.

Đồ họa thể hiện tiến trình hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới của Đồng Nai (Thông tin: Bình Nguyên - Đồ họa: Hải Quân)

Đồ họa thể hiện tiến trình hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới của Đồng Nai (Thông tin: Bình Nguyên - Đồ họa: Hải Quân)

Mặc dù tỉnh Đồng Nai đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, nhưng quá trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần có giải pháp khắc phục trong giai đoạn tới, đó là:

Chuyển đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có nhiều tiến bộ, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Sản xuất nông nghiệp nhiều nơi vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún, tăng trưởng nông nghiệp còn thấp. Công tác phòng chống các dịch bệnh một số nơi chưa thực sự hiệu quả, ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi đã tác động rất lớn đến chăn nuôi lợn của tỉnh Đồng Nai. Việc thu hút đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn chưa nhiều. Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn còn là mối lo của người tiêu dùng; các chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm chưa nhiều, chưa có nông sản hàng hóa có thương hiệu mạnh (sản lượng đủ lớn, ổn định, chất lượng đồng đều, an toàn thực phẩm, giá bán cạnh tranh...) phục vụ mục tiêu xuất khẩu. Công tác nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới, nhất là ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp còn hạn chế. Chưa xây dựng được nhiều cơ sở giết mổ tập trung, đảm bảo an toàn thực phẩm, gây khó khăn cho việc thực hiện kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm.

Nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới chủ yếu từ ngân sách Nhà nước, việc thu hút nguồn lực xã hội ở một số địa phương chưa được nhiều. Hệ thống hạ tầng kinh tế - kỹ thuật nông thôn đầu tư còn chưa đồng đều giữa các địa phương và thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất và phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân; hạ tầng về giao thông nông thôn, thủy lợi, điện phục vụ sản xuất một số nơi còn khó khăn, nhất là ở những vùng xa trung tâm; công tác quản lý quy hoạch, quản lý xây dựng, quản lý đất đai, vệ sinh môi trường khu vực nông thôn còn nhiều hạn chế, bất cập,...

Do tốc độ phát triển công nghiệp nhanh và mật độ dân số ngày càng cao, đã tạo nên sức ép lớn về ô nhiễm môi trường. Bên cạnh lượng chất thải từ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của cư dân nông thôn, Đồng Nai còn là địa bàn tập trung nhiều khu, cụm công nghiệp với lượng chất thải lớn, nhiều nơi đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống người dân,… Với sự gia tăng nhanh chóng của dân số cơ học (nhất là lao động nhập cư), hệ thống cơ sở hạ tầng (đường giao thông, trường học, trạm y tế…) ở một số huyện, thị xã đã và đang quá tải. Đồng thời, nảy sinh nhiều nguy cơ về an ninh trật tư xã hội nông thôn ngày càng phức tạp,

Vì vậy, để tiếp tục thực hiện thành công Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tỉnh Đồng Nai sẽ tập trung vào một số trọng tâm sau:

Thứ nhất, tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung; xây dựng vùng nguyên liệu nông sản tập trung gắn với cấp mã vùng trồng, mã vạch sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn quản lý chất lượng (VietGap, GlobalGap) và truy xuất nguồn gốc đối với tất cả các sản phẩm nông nghiệp, nhất là đối với các vùng trồng cây ăn trái.

Tăng cường phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung, đảm bảo an toàn sinh học, thực hiện chặt chẽ qui trình phòng chống dịch bệnh. Phát triển liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, tăng cường khâu bảo quản và chế biến hàng nông sản; hình thành hệ thống trung tâm kết nối, xúc tiến tiêu thụ, xuất khẩu sản phẩm gắn với chuỗi các chợ đầu mối hoặc trung tâm cung ứng hàng nông sản. Tập trung phát triển các sản phẩm đặc sản, thế mạnh của từng địa phương theo Chương trình OCOP gắn với xây dựng thương hiệu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm và xuất khẩu. Tạo cơ chế, chính sách ưu đãi hơn để thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư vào chế biến nông sản và lĩnh vực phi nông nghiệp tạo nhiều việc làm cho lao động. Chú trọng phát triển và nhân rộng các mô hình du lịch nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, nhất là việc tập trung xây dựng các làng nghề hiện có ở các địa phương thành các làng văn hóa – du lịch trong Chương trình OCOP, nhằm thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế đến thăm quan, trải nghiệm.  

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống hạ tầng cơ bản phục vụ sản xuất và dân sinh ở nông thôn, theo hướng đáp ứng yêu cầu, nâng cao chất lượng (cao hơn so với mức đạt chuẩn). Chú trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển đô thị; kết nối liên xã, liên huyện; mở rộng và hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng trung tâm cấp huyện, trong đó, chú trọng đầu tư hình thành và phát triển hệ thống cung ứng, kết nối nông sản hiện đại cấp huyện; chủ động giải pháp ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu.

Thứ ba, chú trọng nâng cao hơn chất lượng y tế, giáo dục, xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, thể thao ở nông thôn; bảo tồn và phát huy sự đa dạng, phong phú về các giá trị văn hóa ở nông thôn, làm cơ sở để nhân rộng các mô hình du lịch trải nghiệm, du lịch nông thôn; tăng cường phát huy vai trò tự quản, sự tham gia của người dân đối với công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn, để nông thôn Đồng Nai thực sự bình yên, trở thành những miền quê đáng sống, thu hút những người làm việc ở các khu đô thị, khu công nghiệp về sinh sống.

Thứ tư, quan tâm công tác bảo vệ môi trường ở nông thôn (tăng tỷ lệ chất thải rắn, nước thải sinh hoạt, bao gói thuốc bảo vệ thực vật được phân loại, thu gom và xử lý), phát động và duy trì các phong trào nói không với rác thải nhựa, tái sử dụng chất thải nông nghiệp đảm bảo đúng quy định về vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm, cải tạo cảnh quan môi trường; tập trung phát triển các mô hình thôn, xóm xanh, sạch, đẹp làm tiền đề cho phát triển du lịch nông thôn trên địa bàn tỉnh về lâu dài và bảo tồn được hồn cốt văn hoá nông thôn, cũng như hình thành các vành đai sinh thái xanh./.

Đức Tiến

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất