Phấn đấu để phát triển thành công năng lượng tái tạo tại Việt Nam

1. Thực trạng thực trạng phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay

Năng lượng tái tạo ở Việt Nam ngoài thủy điện nhỏ, các loại hình năng lượng khác mới ở mức tiếp cận, tìm hiểu và bước đầu phát triển công nghệ khai thác phụ, nhu cầu điện và nhiệt, thiết bị công nghệ đã lắp đặt hầu hết nhập từ nước ngoài. Trên thực tế, rải rác ở một số tỉnh, thành đã triển khai các hệ thống pin mặt trời quy mô gia đình, quy mô cộng đồng. Các dự án quy mô nhỏ, rủi ro cao, suất đầu tư cao, giá điện khoảng 8.000-10.000 đồng/kWh; hầu hết được thực hiện bằng nguồn vốn tài trợ từ Thụy Điển, Nhật, Tây Ban Nha, Mỹ... Các thiết bị đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời dần dần được sử dụng khá rộng rãi, hiện tại có nhiều nhà sản xuất và phân phối trên cả ba miền Bắc-Trung-Nam

Hiện nay có nhiều nhà đầu tư nước ngoài và các công ty Việt nam đang xây dựng các dự án về trang trại gió ở Việt Nam với công suất từ 6 MW đến 150 MW. Dự án có tốc độ triển khai nhanh nhất là dự án của Công ty cổ phần năng lượng tái tạo Việt Nam (REVN), với 5 turbine gió có công suất 1,5 MW do Công ty Fuhrlander của Đức sản xuất đã được lắp thành công tại tỉnh Bình Thuận vào cuối tháng 7 năm 2009. Đến nay, có 3 dự án điện gió đã đi vào hoạt động: Công Lý-Bạc Liêu có công suất 99,2 MW; Phú Lạc 1 có công suất 24 MW và REVN có công suất 30 MW. Một số nhà máy điện gió khác đã bắt đầu khởi công và sẽ đi vào hoạt động là Nhà máy điện gió Đầm Nại ở Ninh Thuận có công suất 40 MW, Nhà máy điện gió Mũi Dinh ở Ninh Thuận có công suất 37,6 MW, Nhà máy điện gió Bình Đại ở Gia Lai có công suất 30 MW. 

Trong quá trình phát triển NLTT hiện nay, có một số khó khăn. Cụ thể là:

Về cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện: Dù có tiềm năng lớn về nguồn NLTT nhưng cho đến nay số các dự án thực hiện còn rất ít, tỷ trọng điện tái tạo trong tổng lượng điện sản xuất là không đáng kể. Có nguyên nhân do rào cản pháp lý như hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đáp ứng các yêu cầu thực tế trong quá trình thiết kế, đầu tư xây dựng và quản lý khai thác vận hành các công trình NLTT, nhất là các công trình điện gió, điện mặt trời còn thiếu. Trong khi đó, các chính sách hiện nay không quy định phải trả các chi phí môi trường và xã hội đối với công nghệ cung cấp điện từ nguồn nhiên liệu hóa thạch, do đó, điện sản xuất từ NLTT thường phải đối mặt với sự bất lợi, cạnh tranh không lành mạnh.

Về cơ sở dữ liệu, thông tin: Do tính đặc thù của NLTT là phân tán, phụ thuộc mùa vụ, thời tiết nên nguồn số liệu không sẵn có. Hiện nay, chưa có cơ quan nào được giao thu thập, cập nhật và thông kê như đã làm với các dạng năng lượng thương mại. Việc đánh giá thấu đáo tiềm năng NLTT có sự dao động lớn là do thiếu cơ sở dữ liệu tin cậy. Cụ thể, đối với năng lượng sinh khối, những điều tra về một số nguồn đã được thực hiện, nhiều vị trí tiềm năng cho các dự án điện sinh khối đã được xác định, tuy nhiên, số liệu về các địa điểm này không đủ và thiếu tin cậy cho việc thực hiện các nghiên cứu khả thi chi tiết. Cần điều tra chính xác về giá sinh khối, sự thay đổi dài hạn của chúng và các đặc tính của sinh khối, đặc biệt là trấu. Đối với năng lượng gió và mặt trời, thiếu số liệu cần thiết và tin cậy về tốc độ gió cho nghiên cứu phát triển nguồn điện gió ở các khu vực khác nhau của đất nước. Các dự án điện gió nối lưới cho đến nay chưa được lắp đặt. Các điều tra, khảo sát về thời gian nắng trong năm theo cùng địa lý với mục đích phát triển năng lượng mặt trời còn chưa đầy đủ.

Các rào cản về thông tin đối với các công nghệ NLTT như điện thuỷ triều và điện sóng còn thiếu. Mặc dù các công nghệ này hiện nay đã gần đến mức thương mại hóa nhưng chưa có sự hỗ trợ đáng kể cho việc điều tra các nguồn này và tìm kiếm các địa điểm để khai thác.

Về trình độ áp dụng công nghệ: Hiện nay ở Việt Nam còn thiếu các doanh nghiệp thương mại cung cấp các thiết bị NLTT và dịch vụ điện liên quan đến năng lượng tái tạo. Do vậy, các công nghệ NLTT phần lớn chưa chế tạo được trong nước mà phải nhập khẩu. Các dịch vụ sau lắp đặt chưa có, đặc biệt là ở vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa.

Đối với các nhà máy thủy điện nhỏ hòa điện lưới (công suất > 1MW), đây là gam công suất có công nghệ đã phát triển. Tuy nhiên, vấn đề chính tồn tại hiện nay chủ yếu là trong các dự án không hòa lưới, nhiều khi khó phân biệt đâu là rào cản kỹ thuật đâu là rào cản thể chế. Sự thiếu đào tạo chuẩn trong vận hành, cũng như các tài liệu hướng dẫn (như làm thế nào để tránh được sự tích tụ chất bồi lắng, lựa chọn thiết bị, loại hình công nghệ thích hợp…) đã dẫn đến việc khai thác kém hiệu quả các công trình ngoài lưới.

Công nghệ điện gió đang trải qua những thay đổi nhanh chóng, đặc biệt về công suất (10 năm trước công suất tiêu chuẩn là 250 kW thì ngày nay phổ biến là từ 1 đến 2 MW), ngoài ra còn phải kể đến những tiến bộ trong khoa học vật liệu. Đối với Việt Nam, cho đến nay chưa có công nghệ hoàn chỉnh nào được thử nghiệm ở các điều kiện khí hậu đặc trưng (như bão, độ ẩm cao, các thông số khí quyển…). Ngoài ra, còn thiếu kinh nghiệm về lựa chọn thiết bị đồng bộ, kỹ năng khai thác, vận hành và bảo dưỡng, kể cả điện gió quy mô nhỏ cho khu vực ngoài lưới (chẳng hạn như ở các huyện đảo nơi mà có thể áp dụng hệ thống lai ghép gió - diesel có chi phí thấp hơn so với chỉ sử dụng diesel).

Đối với các dự án điện nối lưới, mặc dù các công nghệ điện sinh khối được kiểm chứng và có hiệu suất cao đã được áp dụng trên thế giới, nhưng chưa được biết đến nhiều ở Việt Nam (như điện trấu, các công nghệ khí hoá, thu hồi khí mê tan tại các bãi rác, đốt rác thải sinh hoạt...). Hiện nay, không có các công ty trong nước cung cấp các công nghệ điện sinh khối. Hầu hết các công nghệ đều phải nhập khẩu. Các dịch vụ tư vấn và kỹ thuật đối với các công nghệ điện sinh khối còn hạn chế, đặc biệt là dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa sau khi lắp đặt.

Đối với các công nghệ khác, cũng còn nhiều rào cản đang nổi lên trong thời gian gần đây, như khí sinh học, pin mặt trời, năng lượng thuỷ triều và sóng. Việc cải thiện hiệu suất của pin mặt trời và phát triển các vật liệu mới cần những nỗ lực nghiên cứu và ứng dụng mạnh mẽ của toàn cầu. Nhưng không giống như trường hợp ứng dụng năng lượng sinh khối vì việc ứng dụng công nghệ này không phụ thuộc vào phương thức sử dụng cũng như loại sinh khối, do vậy, rất khó chứng minh rằng đây là những lĩnh vực ưu tiên để cấp vốn cho nghiên cứu cơ bản hoặc chế tạo tại Việt Nam hay không. Mặc dù vậy, việc xây dựng các tiêu chuẩn và quy phạm riêng cho việc ứng dụng pin mặt trời, đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời là cần thiết. Về đầu tư và giá thành: Chính phủ đã ban hành cơ chế mua điện trực tiếp từ các nhà máy NLTT. Đối với năng lượng gió, cơ chế được ban hành từ năm 2011 với giá 7,8cent/kWh; đối với điện mặt trời theo cơ chế mới ban hành tháng 4-2017 giá 9,35cent/ kWh, đây là mức giá đảm bảo đủ lợi nhuận để các nhà sản xuất có thể đầu tư lâu dài vào lĩnh vực NLTT. Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế lớn cần quan tâm. Như vấn đề thời hạn vay, vấn đề thúc đẩy quá trình tham gia xã hội hóa đối với NLTT.

2. Một số giải pháp cơ bản để phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam

Đặc thù của NLTT là sự phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên (nước, nắng, gió, vị trí địa lý…), công nghệ và giá thành sản xuất. Do đó, để thúc đẩy phát triển NLTT, Nhà nước cần có thêm các chính sách hỗ trợ như cơ chế hạn ngạch, cơ chế giá ổn định, cơ chế đấu thầu và cơ chế cấp chứng chỉ. Với mục tiêu chung là phát triển nguồn NLTT cho sản xuất điện, tăng tỷ lệ điện năng sản xuất từ nguồn NLTT đạt khoảng 7% năm 2020, trên 10% năm 2030, chúng ta cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, đẩy mạnh tuyên truyền và phổ biến kiến thức đến mọi người dân về tầm quan trọng, hiệu quả kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường của việc phát triển và sử dụng NLTT trong quá trình phát triển bền vững, từ đó có những hành động thiết thực đóng góp cho việc phát triển và sử dụng nguồn NLTT. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng chỉ đạo tuyên truyền.

Hai là, trước mắt cần xây dựng Luật NLTT. Chúng ta đã có Luật Điện lực, Luật Sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, do đó cần xây dựng Luật NLTT. Từ kinh nghiệm thành công của nước ngoài cho thấy, xây dựng Luật NLTT sẽ là giải pháp có tính then chốt, tiên quyết cho việc phát triển NLTT.

Ba là, Chính phủ xây dựng và ban hành Chiến lược và Chính sách NLTT quốc gia, tạo cơ sở và các điều kiện pháp lý để thống nhất chỉ đạo cũng như tạo ra sự phối hợp có trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, giữa các bộ, ban, ngành về phát triển NLTT.

Bốn là, thành lập Quỹ phát triển năng lượng bền vững sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn thu từ phí môi trường đối với nhiên liệu hóa thạch, các nguồn tài trợ, đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong, ngoài nước và các nguồn vốn hợp pháp khác nhằm hỗ trợ tài chính cho hoạt động khuyến khích phát triển NLTT trên phạm vi toàn quốc.

Năm là, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia thị trường NLTT. Nhà nước có các chính sách hỗ trợ như cơ chế hạn ngạch, cơ chế giá ổn định, cơ chế đấu thầu và cơ chế cấp chứng chỉ cho những doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp, sửa chữa các loại thiết bị như bình đun nước nóng, thủy điện nhỏ, động cơ gió, hầm bioga khí sinh học…

Sáu là, xác định các nhiệm vụ nghiên cứu triển khai ưu tiên về NLTT và xem như là các nhiệm vụ khoa học công nghệ trọng điểm. Từ đó cần có sự đầu tư đúng mức để giải quyết ngay các vấn đề có tính quan trọng đối với phát triển NLTT (ví dụ như điều tra, đánh giá tiềm năng; lựa chọn công nghệ phù hợp; đề xuất các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ cụ thể…). Xây dựng một số cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ chuyên sâu về NLTT.

Bảy là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế để trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, tranh thủ các nguồn tài trợ nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển NLTT ở Việt Nam. Hiện nay, Đảng và Nhà nước đang đề ra mục tiêu sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Do vậy, nếu thực hiện thành công phát triển NLTT tại Việt Nam cũng là góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công mục tiêu này./.

 

TS. Võ Thành Phong

 

Gửi cho bạn bè

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Tiêu điểm

Liên kết website

Mới nhất