Những tác động tới tiến trình hội nhập của Việt Nam
Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 33 với chủ đề “ASEAN tự cường và sáng tạo” đã đạt thành công trên nhiều mặt: chính trị - an ninh, kinh tế và văn hoá - xã hội

NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐA CHIỀU

Trong các diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế và tác động đa chiều của truyền thông hiện nay, Việt Nam cần có cái nhìn tỉnh táo, cân bằng để nắm rõ các hiện tượng và bản chất của các sự kiện, từ đó có các đối sách phù hợp cho tiến trình hội nhập quốc tế. 

Về tổng thể, tiến trình hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế đang đi đúng hướng, song môi trường chính trị, an ninh và kinh tế quốc tế khác biệt căn bản so với trước, đã đặt ra thời cơ và thách thức lớn. Ba nhân tố lớn nhất tạo nên diện mạo khác biệt trong tình hình hiện nay gồm: Một là, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng trở nên gay gắt, liên quan đến nhiều lĩnh vực và vấn đề khác nhau, tác động trực tiếp đến môi trường an ninh và phát triển của Việt Nam. Đáng chú ý là cạnh tranh, cọ xát không chỉ giới hạn trong các vấn đề thương mại cụ thể mà còn trong các lĩnh vực an ninh, chiến lược, xây dựng luật lệ, thể chế… Trong đó, cọ xát thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc là một trong những hệ quả rõ rệt của xu hướng cạnh tranh giữa các nước lớn. Mới đây, hai quốc gia này đã đạt được thỏa thuận tạm thời ngừng áp đặt thuế đối với hàng hóa của Trung Quốc vào thị trường Mỹ; song kết cục cọ xát thương mại Mỹ - Trung vẫn chưa rõ ràng, rủi ro đối với kinh tế toàn cầu, cả trên thực tế và tâm lý, vẫn còn rất lớn. Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), các xung đột thương mại sẽ khiến giao dịch thương mại toàn cầu chịu thiệt hại nặng nề, dự báo giảm khoảng 3% và 5% lần lượt vào năm 2018 và 2019. Cuộc chiến thương mại làm cho môi trường kinh tế toàn cầu trở nên bất trắc, khó lường hơn, thúc đẩy các tập đoàn tính toán lại chiến lược đầu tư, sản xuất kinh doanh. 


Hai là, các thể chế đa phương đang gặp khó khăn và ở giai đoạn chuyển đổi mang tính bước ngoặt, một số khuôn khổ và luật chơi đang được điều chỉnh, định hình lại. Trong đó, có cải cách và nâng cao hiệu quả Tổ chức thương mại thế giới (WTO), định hình cấu trúc khu vực châu Á - Thái Bình Dương với các thỏa thuận, chiến lược sáng kiến mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Tầm nhìn APEC sau 2020, Sáng kiến Vành đai - Con đường, Chiến lược/Sáng kiến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương…  

Việc Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 26 không ra được Tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo cho thấy sự phức tạp và khó khăn trong việc tìm được tiếng nói chung của các nền kinh tế về một số vấn đề then chốt liên quan đến thương mại và hệ thống thương mại đa phương. Đồng thời, các định chế tài chính toàn cầu như Liên hợp quốc, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới, Tổ chức Lao động quốc tế, Tổ chức Y tế thế giới đều đứng trước nhu cầu cải cách, điều chỉnh. 

Ba là, chủ nghĩa bảo hộ, các rủi ro như nợ công, tỷ giá cùng những căng thẳng chính trị, xung đột và các vấn đề an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, đang tác động không nhỏ đến triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Xu hướng bảo hộ gia tăng ở một số nền kinh tế phát triển, đầu tầu kinh tế thế giới có tác động lan tỏa đến toàn hệ thống các mối quan hệ kinh tế, thương mại ở cấp độ khu vực và toàn cầu. Bên cạnh đó, những nhân tố ngắn hạn khác như tỷ lệ nợ công cao, đồng đô-la lên giá và chính sách thắt chặt tài khóa của một số nền kinh tế lớn tác động không thuận đối với ổn định kinh tế vĩ mô của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đồng thời, những căng thẳng, bất ổn chính trị, xung đột trên thế giới, nhất là ở eo biển Đài Loan, Biển Đông, Trung Đông như Iran, Syria, quan hệ Nga - Ukraine… tiếp tục diễn biến phức tạp, đe dọa hòa bình, ổn định ở khu vực và thế giới, có nguy cơ đẩy cao giá dầu thế giới, làm đổi hướng các dòng thương mại và đầu tư ở khu vực và trên phạm vi toàn cầu.

Tuy nhiên, đi cùng với diễn biến, chiều hướng bất ổn định và tiêu cực nêu trên là những nhân tố, xu hướng thuận lợi, có thể tạo ra những cơ hội và ảnh hưởng tích cực đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. 

Thứ nhất, mười năm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009, kinh tế thế giới tiếp tục phục hồi và tăng trưởng tích cực, dự kiến khoảng 3,7% trong năm 2018 (theo IMF). Đồng thời, thế giới đã bước vào thời kỳ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc đến 2030 (SDGs), sáng tạo và bao trùm, mô hình kinh tế xanh, kinh tế tri thức, kinh tế số, v.v.. Đáng chú ý, Việt Nam là nước được đánh giá hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để có thể hiện thực hóa những cơ hội mới to lớn này.

Thứ hai, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là nguyện vọng và lợi ích của các quốc gia - dân tộc và là dòng chảy chính; cục diện đa phương, đa trung tâm, đa tầng nấc tiếp tục được thúc đẩy bởi nhiều quốc gia với nhiều sáng kiến. Ngoài Chiến lược/ Sáng kiến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và Sáng kiến Vành đai - Con đường, còn có Liên minh kinh tế Á - Âu, mạng lưới FTA/PCA của EU với các đối tác... Đồng thời, các nền kinh tế mới nổi như BRICS tiếp tục vươn lên; các cơ chế khu vực gia tăng vai trò là những chủ thể hợp tác đa phương như EU, ASEAN, APEC, CPTPP, Liên minh Thái Bình Dương… Các cơ chế đa phương khu vực và tiểu vùng (như ASEAN, APEC, CICA, Shangri - La, các khuôn khổ hợp tác Mê Công…) và liên khu vực (như ASEM, FEALAC…) tiếp tục phát triển. Các diễn đàn, cơ chế toàn cầu như G-20, G-7, BRICS, WEF… vẫn đóng vai trò quan trọng trong quản trị toàn cầu. 

Thứ ba, điểm tích cực đối với khu vực chúng ta là châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục giữ được hòa bình, ổn định và phát triển năng động. Đây cũng là khu vực nhận được sự quan tâm của nhiều nước lớn trong và ngoài khu vực với các sáng kiến như Sáng kiến Vành đai - Con đường, Chiến lược/Sáng kiến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương… Trong bối cảnh đó, ASEAN đạt một số tiến bộ nhất định trong tiến trình xây dựng cộng đồng. Mặc dù gặp nhiều khó khăn cả trong và ngoài, song ASEAN giữ vai trò trung tâm trong các cấu trúc khu vực, được các nước coi trọng.

CƠ HỘI KHÔNG NHỎ CHO VIỆT NAM

 Những chuyển biến mạnh mẽ trong cục diện chính trị, kinh tế thế giới nêu trên đặt ra những cơ hội không nhỏ cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và liên kết quốc tế của chúng ta ngày càng sâu rộng. Tuy vậy, thách thức, khó khăn sẽ không ít đi, trái lại đang và sẽ tiếp tục ngày càng gia tăng, trở thành tình trạng bình thường mới, tác động đến tất cả các nước, nhất là các quốc gia có độ mở của nền kinh tế lớn như Việt Nam. Dẫu vậy, Việt Nam vẫn đang có những vận hội mới không hề nhỏ để tiếp tục hội nhập, phát triển đất nước. Để tận dụng được những vận hội đó, Việt Nam cần: 

Một là, xử lý tốt mối quan hệ giữa chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và xây dựng nền kinh tế tự chủ, nâng cao sức mạnh tổng thể quốc gia. Việc thực hiện các cam kết hội nhập sâu rộng đang tạo sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt trên cả ba cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm.

Vấn đề lớn đặt ra là làm sao thực hiện hiệu quả các FTA thế hệ mới để tăng cường được nội lực, nâng cao được năng suất, sức cạnh tranh của nền kinh tế, nuôi dưỡng và phát triển được nhiều “gen Việt” trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực củng cố ổn định kinh tế vĩ mô, xây dựng nền kinh tế có khả năng tự chủ, có năng lực thích nghi và điều chỉnh linh hoạt trước những biến động kinh tế thế giới và khu vực. Việc đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh là tiền đề và là giải pháp quyết định để nâng cao nội lực nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức của hội nhập quốc tế.


Hai là, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là cơ hội rất lớn để Việt Nam đẩy nhanh hơn tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, định vị đất nước ở vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu và thu hẹp khoảng cách phát triển với các nước. Đây chính là những nhân tố thuận lợi để Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh cải cách, đổi mới mô hình tăng trưởng, hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2016 - 2020, nhằm tạo nền tảng vững chắc cho hội nhập và phát triển nhanh, bền vững hơn trong giai đoạn sau 2020. Do vậy, chiến lược phát triển của Việt Nam hiện nay và những năm tới là tìm động lực mới cho phát triển gắn với cách mạng công nghiệp 4.0 và lợi thế của đất nước như công nghệ thông tin, nông nghiệp công nghệ cao, đô thị thông minh, các ngành dịch vụ được phát triển từ công nghệ (thương mại điện tử, chuỗi cung ứng và vận tải thông minh, công nghệ tài chính…), y tế, du lịch chất lượng cao… Phát triển những lĩnh vực này không chỉ tạo nhiều việc làm mới mà còn tạo nhu cầu và thị trường cho đổi mới, sáng tạo công nghệ.

Ba là, cần kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hóa, đa phương hóa để góp phần xây dựng một trật tự quốc tế, khu vực hòa bình, ổn định, dựa trên luật pháp quốc tế, phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình, nhất là trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị làm Chủ tịch ASEAN vào năm 2020 và đang ứng cử làm Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Đây là những nội dung phức tạp, đòi hỏi các bộ, ngành cần phối hợp, nghiên cứu để tham mưu cho Đảng, Chính phủ trong quá trình triển khai các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Bốn là, Việt Nam cần chủ động có biện pháp thích ứng với những tác động đa chiều của cọ xát thương mại Mỹ - Trung; chú trọng mở rộng các hoạt động xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao, đi đôi với nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các tác động từ bên ngoài. Năm là, hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, trong đó doanh nhân, doanh nghiệp là lực lượng đi đầu. Việt Nam cần nỗ lực hoàn thiện, thực hiện quyết liệt, hiệu quả và thực chất các cơ chế, chính sách thúc đẩy doanh nghiệp tranh thủ tốt cơ hội, lợi ích của hội nhập quốc tế. Ngành Ngoại giao sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác ngoại giao kinh tế “lấy doanh nghiệp, người dân làm trung tâm”, nhằm tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, công nghệ, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế. 

Sáu là, việc xây dựng năng lực cho đội ngũ cán bộ hội nhập theo hướng chuyên nghiệp, bản lĩnh, có trình độ chuyên môn, kỹ năng thời đại số trở nên rất cấp bách và cần thiết. Sự hợp tác, hỗ trợ của các bạn bè quốc tế trong lĩnh vực nâng cao năng lực đều được hoan nghênh và trân trọng. 

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị Cấp cao Diễn đàn Hợp tác Á – Âu lần thứ 12 (ASEM 12)
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị Cấp cao Diễn đàn Hợp tác Á – Âu lần thứ 12 (ASEM 12)


  Tình hình thế giới đang chuyển biến nhanh chóng, cần tăng cường phối hợp, thống nhất về nhận thức cũng như biện pháp triển khai thắng lợi định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế mà Đại hội XII của Đảng đã đề ra. Trong đó, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Trung ương, sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, liên ngành hiệu lực và hiệu quả có ý nghĩa then chốt trong việc giúp Việt Nam tranh thủ được những cơ hội và hóa giải được các thách thức mà tình hình đang đặt ra đối với tiến trình hội nhập của đất nước. Bên cạnh đó, nâng cao nhận thức và năng lực của các doanh nghiệp để tận dụng các cơ hội từ hội nhập cũng là yêu cầu cấp bách.

Bùi Thanh Sơn

Ủy viên Trung ương Đảng Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao

 

_____________________________

Bài đăng Tạp chí Tuyên giáo số 1/2019

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Liên kết website

Mới nhất