Xây dựng văn hóa trong kinh tế vì sự phát triển bền vững đất nước Việt Nam
(Hình minh họa)

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VĂN HÓA VÀ KINH TẾ

1. Quan niệm về văn hóa và kinh tế

Quan niệm về văn hóa

Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.

Đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do con người với tư cách con người - con người có văn hóa, đã sáng tạo nên trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội để phục vụ nhu cầu tồn tại và phát triển. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương tiện sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của dân chúng và đòi hỏi của sự sinh tồn”(1).

Nói khái quát, văn hóa là khái niệm chỉ thuộc tính của con người là sáng tạo, cải tạo hiện thực vươn tới giá trị nhân văn, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, là dấu hiệu để phân biệt loài người với loài vật, cá nhân này với cá nhân khác, cộng đồng này với cộng đồng khác. Đồng thời, đây cũng là khái niệm để chỉ trình độ và chất lượng cuộc sống của con người.

Văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Do đó, theo truyền thống, văn hóa có cấu trúc hai phần rất đơn giản: văn hóa vật chất (bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hằng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại...) và văn hóa tinh thần (bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ nghi, lễ hội, phong tục, tập quán, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương).

Quan niệm về kinh tế

Kinh tế là hoạt động sản xuất của cải vật chất, là toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi của một chế độ xã hội; là tổng hòa các mối quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệ phân phối, lưu thông sản phẩm xã hội), dựa trên một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, tạo nên kết cấu kinh tế của chế độ xã hội hay cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội.

C. Mác và Ph. Ăng-ghen cho rằng, sản xuất vật chất là cơ sở cho sự phát triển của xã hội loài người. Việc chuyển từ nấc thang phát triển xã hội này sang nấc thang phát triển xã hội khác, trước hết gắn liền với sự phát triển của phương thức sản xuất vật chất; và C. Mác đã viết: phương thức sản xuất đời sống vật chất quy định những quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị, tinh thần nói chung. Nói đến kinh tế là nói đến lợi ích kinh tế, hiệu quả kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất gắn liền với mỗi thành viên tham gia quá trình sản xuất và tái sản xuất, cũng như lợi ích của mỗi tập đoàn, giai cấp, nhóm xã hội.

2. Mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế

Văn hóa hay văn hóa trong kinh tế không ở bên ngoài, mà là yếu tố bên trong, là nguồn nội lực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu văn hóa trong kinh tế là nghiên cứu vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội, là nghiên cứu sự tác động qua lại giữa văn hóa và kinh tế. Văn hóa phát huy vai trò của mình khi thâm nhập, tác động vào kinh tế, đồng thời kinh tế cũng quy định và chế ước văn hóa, là điều kiện và nguồn lực cho văn hóa hoạt động; với ý nghĩa là sức mạnh nội sinh của phát triển, văn hóa phải dựa trên kinh tế.

Mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế là mối quan hệ cơ bản trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Đây là mối quan hệ biện chứng và đóng vai trò quan trọng trong duy trì sự ổn định kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... của mỗi quốc gia. Mối quan hệ này thể hiện như sau:

Thứ nhất, văn hóa phát triển trên nền tảng kinh tế.

Theo lý luận Mác - Lênin về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, các yếu tố kinh tế là bộ phận quan trọng của cơ sở hạ tầng quyết định trạng thái của kiến trúc thượng tầng, như chính trị, pháp luật, tư tưởng, văn hóa, đạo đức... C. Mác đã viết, phương thức sản xuất đời sống vật chất quy định những quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị, tinh thần nói chung. Hay, trong đời sống xã hội có nhiều hoạt động khác nhau: hoạt động kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội... trong đó, hoạt động kinh tế là nền tảng, đóng vai trò quyết định, chi phối các mặt hoạt động khác.

Thứ hai, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.

Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội suy cho cùng là vì con người, nhưng đó là con người có văn hóa, xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, con người được ấm no hạnh phúc, phát triển toàn diện. Vì vậy, văn hóa đóng vai trò là mục tiêu trước mắt và lâu dài của phát triển kinh tế.

Văn hóa là động lực của phát triển. Văn hóa không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực của sự phát triển. Chính nhờ có văn hóa mà con người trở thành nhân tố chủ đạo của quá trình sản xuất và sáng tạo ra các giá trị của nhân loại. Đặc biệt, nhờ các giá trị to lớn của văn hóa tinh thần (khoa học, công nghệ, tri thức quản lý...) mới tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao - bộ phận tinh túy nhất của lực lượng sản xuất. Rồi cũng chính nhờ có văn hóa mà con người được giải thoát khỏi sự dốt nát, tăm tối để phát huy cao độ khả năng sáng tạo và phát triển của xã hội, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và khoa học - công nghệ.

Trong thời đại ngày nay, nguồn gốc sự giàu có của một quốc gia không chỉ là tài nguyên thiên nhiên, vốn, kỹ thuật và công nghệ, mà yếu tố ngày càng quan trọng và quyết định là nguồn lực con người, là tiềm năng sáng tạo của con người. Tiềm năng này nằm trong văn hóa, trong trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, nhân cách, lối sống, ý chí, nghị lực, tài năng và sự thành thạo công việc của mỗi cá nhân và cộng đồng. Chung quy lại, tài nguyên quý giá nhất, cái vốn quý nhất là con người, là văn hóa, là nguồn nhân lực chất lượng cao, là tri thức, trí tuệ trong nền kinh tế tri thức.

Thực tế trên thế giới cho thấy, không ít quốc gia có nhiều tài nguyên thiên nhiên nhưng rất nghèo đói; trái lại, một số nước nghèo về tài nguyên thiên nhiên nhưng lại rất giàu về kinh tế, bởi nhờ coi trọng nâng cao dân trí, phát triển giáo dục và đào tạo, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài... nghĩa là rất coi trọng văn hóa. Xét cho cùng, tài nguyên quý nhất, vốn quý nhất là con người.

Thứ ba, văn hóa và phát triển bền vững.

Phát triển bền vững, an toàn là mục tiêu vĩnh hằng của mọi hệ thống xã hội. Sự phát triển không chỉ được xét trên mặt vật chất đơn thuần, mà còn phải bao hàm cả về mặt tinh thần của xã hội mà con người tạo ra, tức là phải tính đến vấn đề văn hóa và phát triển. Phát triển và văn hóa, văn hóa và phát triển là hai mặt của cùng một mục tiêu tồn tại và vươn tới của mọi cộng đồng và nhân loại. Chính văn hóa là yếu tố dùng để chế định cho sự phát triển bền vững, an toàn, hướng tới cái đúng, cái đẹp, cái tốt, cái hợp lý.

Để đạt mục tiêu đó, nhất thiết phải có sự phát triển cao về kinh tế, về cơ sở vật chất - kỹ thuật, về khoa học và công nghệ... Song chỉ như thế thì chưa đủ và rất phiến diện, nếu hiểu xây dựng, phát triển kinh tế chỉ đơn thuần là tăng trưởng, tăng trưởng với bất kỳ giá nào, dù có phải hy sinh cả những lợi ích về mặt xã hội, văn hóa, phẩm giá con người...

Thực tế cho thấy, loài người đã và đang trả giá cho sự phát triển kinh tế nhanh, phiến diện, tăng trưởng không đi liền với phát triển bền vững. Năm 1996, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã khuyến cáo năm loại tăng trưởng xấu, bao gồm: 1) Tăng trưởng không việc làm, đó là sự tăng trưởng không đi đôi với mở rộng cơ hội tạo việc làm... 2) Tăng trưởng không lương tâm, tức là thành quả của tăng trưởng chủ yếu dành cho người giàu, còn người nghèo được hưởng ít, khoảng cách giàu nghèo ngày gia tăng; 3- Tăng trưởng không có tiếng nói, tức là tăng trưởng kinh tế không kèm theo việc mở rộng dân chủ hay là việc trao quyền lực cho người dân, hạn chế những đòi hỏi tham dự nhiều hơn vào đời sống xã hội của dân cư; 4- Tăng trưởng không gốc rễ, là sự tăng trưởng khiến cho đời sống văn hóa của con người trở nên khô héo; 5- Tăng trưởng không tương lai, tức là thế hệ hiện nay phung phí những nguồn lực mà các thế hệ tương lai cần đến, trong đó phải kể đến là môi trường và tài nguyên thiên nhiên.

Mọi sự phát triển không gắn với văn hóa đều là sự phát triển què quặt, mang nặng tính kỹ thuật và tất yếu dẫn đến bất công xã hội, dẫn đến phân hóa giàu - nghèo, phân hóa xã hội.

XÂY DỰNG VĂN HÓA TRONG KINH TẾ VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

1. Văn hóa trong kinh tế

Theo cấu trúc rộng của văn hóa, các nhân tố chính trị, khoa học, đạo đức, thậm chí cả kinh tế... đều hợp thành văn hóa. Theo đó, tất yếu phải đưa giá trị văn hóa, chuẩn mực ứng xử văn hóa vào trong hoạt động kinh tế của các chủ thể.

Đưa nội dung văn hóa, các giá trị văn hóa vào kinh tế, nhất là phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế chính là xây dựng văn hóa kinh tế. Văn hóa kinh tế là một tập hợp, một hệ thống bao gồm các bộ phận chủ yếu sau: 1) Văn hóa lao động; 2) Văn hóa sản xuất, kinh doanh - dịch vụ; 3) Văn hóa quản lý kinh tế; 4) Văn hóa doanh nghiệp; 5) Văn hóa doanh nhân... Tác nhân văn hóa trong kinh tế làm cho kinh tế trở thành văn hóa trong kinh tế. Kinh tế được bảo đảm bởi văn hóa sẽ phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng theo tinh thần nhân văn vì con người, phục vụ lợi ích của con người và cộng đồng.

Xây dựng văn hóa kinh tế, trong đó quan trọng nhất là văn hóa doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nhân:

Một là, văn hóa doanh nghiệp.

Để doanh nghiệp trở thành nơi tập hợp, phát huy mọi nguồn lực con người, làm gia tăng nhiều lần giá trị của từng nguồn lực con người đơn lẻ, góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng và duy trì văn hóa doanh nghiệp (VHDN). Văn hóa doanh nghiệp là văn hóa của một tổ chức, vì vậy nó không đơn thuần là văn hóa giao tiếp hay văn hóa kinh doanh như ta thường nghĩ, mà đó là toàn bộ các giá trị văn hóa được xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên trong doanh nghiệp, tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp.

Cốt lõi của VHDN là tinh thần và quan điểm giá trị của doanh nghiệp. Theo các nhà nghiên cứu, VHDN có 5 yếu tố cấu thành, đó là: triết lý quản lý và kinh doanh; động lực của cá nhân và tổ chức; quy trình quy định; hệ thống trao đổi thông tin; phong trào, nghi thức, nghi lễ.

Hai là, văn hóa kinh doanh.

Theo nghĩa rộng, văn hóa kinh doanh (VHKD) là một phương diện của văn hóa trong xã hội, là văn hóa trong hoạt động kinh doanh, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, những phương thức và kết quả hoạt động của con người được tạo ra và sử dụng trong quá trình kinh doanh.

Văn hóa kinh doanh biểu hiện qua mọi khía cạnh, mọi quan hệ của hoạt động kinh doanh, trong tổ chức, quản lý kinh doanh; ở sự giao lưu, giao tiếp kinh doanh. Cụ thể là việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, như thực hiện đầy đủ các khoản đóng góp vào ngân sách nhà nước, bảo vệ môi trường, tôn trọng các quy phạm đạo đức trong quan hệ xã hội, quan hệ kinh doanh...; ở phẩm chất đạo đức, tài năng và phong cách của nhà kinh doanh.

Bên cạnh đó, VHKD còn thể hiện ở hoạt động văn hóa, tinh thần của doanh nghiệp. Văn hóa kinh doanh chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, như nền văn hóa xã hội, thể chế xã hội, sự khác biệt và giao lưu văn hóa, cũng như quá trình toàn cầu hóa.

Văn hóa kinh doanh có vai trò, tác dụng to lớn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi văn hóa kết tinh vào trong hoạt động kinh doanh, sẽ tạo thành phương thức kinh doanh có văn hóa, đó là lối kinh doanh trung thực, ngay thẳng, kích thích sự cạnh tranh lành mạnh, không làm tổn hại đến các truyền thống và tập quán tốt đẹp của dân tộc, tạo ra mối quan hệ mật thiết giữa nhà sản xuất, nhà kinh doanh và người tiêu dùng theo nguyên tắc các bên cùng có lợi. Chỉ khi thực hiện kiểu kinh doanh có văn hóa mới kết hợp được tính hiệu quả cao và sự phát triển bền vững của chủ thể.

Ba là, văn hóa doanh nhân.

Trong nền VHKD hiện đại, ta thấy văn hóa doanh nhân (VHDNh) thuộc hình thái cá nhân, còn VHDN thuộc hình thái cộng đồng.

Có thể hiểu VHDNh là thuộc dòng văn hóa cá nhân hình thành trong môi trường của một nền VHDN thành đạt. Đó là toàn bộ vốn tri thức, kinh nghiệm biểu thị thành những giá trị và khuôn mẫu hành xử tích lũy vào một cá nhân tạo nền VHDNh - một con người có khát vọng làm giàu, có tri thức làm giàu, dám chịu rủi ro để làm giàu bằng cách tổ chức các hoạt động kinh doanh, liên tục tạo ra giá trị gia tăng cao, không ngừng gia tăng tài sản cá nhân cũng như cho doanh nghiệp.

Xây dựng VHDN và VHDNh với ý thức tôn trọng pháp luật, giữ chữ tín, cạnh tranh lành mạnh vì sự phát triển bền vững đất nước.

2. Những giải pháp xây dựng văn hóa trong kinh tế vì sự phát triển bền vững đất nước ta

Gắn kết kinh tế với văn hóa - chìa khóa cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Ngày nay, sự phát triển của một quốc gia không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế, sự phát triển khoa học - kỹ thuật, công nghệ, nguồn tài nguyên thiên nhiên... mà còn phụ thuộc rất lớn vào nguồn lực con người, chất lượng cuộc sống và sự giàu có về đời sống vật chất và tinh thần. Không phải ngẫu nhiên mà Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 1992 đã khẳng định, tăng trưởng kinh tế chỉ là phương tiện cơ bản để có được sự phát triển, nhưng bản thân nó chỉ là một đại diện không hoàn hảo của tiến bộ. Thật vậy, xét đến cùng, kinh tế là yếu tố quyết định sự tiến bộ xã hội, song tiêu chuẩn để đánh giá sự phát triển xã hội không chỉ căn cứ duy nhất vào yếu tố kinh tế.

Nhận thức rõ điều đó, Đảng ta luôn luôn chú ý đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII đã khẳng định: “Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội, luật pháp, kỷ cương... biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển”(2). Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động lực phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế”(3).

Nhận thức sâu sắc, toàn diện vai trò, mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội của văn hóa.

Bản chất của văn hóa là sự sáng tạo, hướng tới các giá trị nhân văn, hướng tới cái đúng, cái đẹp, cái tốt để thúc đẩy tiến bộ xã hội và bản chất của văn hóa là thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Đảng và Nhà nước ta luôn đặt ra yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.

Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, không chỉ là mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Vai trò động lực của văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội thể hiện ở một số nội dung cơ bản: 1- Mọi hoạt động văn hóa xét cho cùng đều hướng đến phát triển con người toàn diện; đức, trí, thể, mỹ; bản lĩnh và ý chí, năng lực hoạt động thực tiễn kinh tế - xã hội; 2- Tác động của môi trường văn hóa đối với quá trình phát triển; 3- Văn hóa không chỉ có chức năng giáo dục, chức năng nhận thức, mà còn có chức năng kinh tế - tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy phải thay đổi quan điểm đầu tư cho văn hóa không phải đầu tư để “chống xuống cấp’’ hay “bảo đảm phúc lợi xã hội”, mà là đầu tư cho phát triển, đầu tư để bảo đảm phát triển bền vững của đất nước.

Bên cạnh việc phát triển kinh tế, phải rất quan tâm đến chống suy giảm văn hóa hay những “cục máu đông” về văn hóa, như suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí... “Cục máu đông” về văn hóa làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, thách thức vai trò lãnh đạo của Đảng, liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ. Suy giảm về kinh tế có thể sau 10 năm hay 15 năm lấy lại được đà tăng trưởng, nhưng chống suy thoái về văn hóa lại là cuộc chiến lâu dài, gian khổ và quyết liệt. Có một nhận định thật chí lý rằng, kinh tế mất đi có thể lấy lại được, còn văn hóa mất đi là mất luôn, vĩnh viễn.

Bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.

Tiến bộ và công bằng xã hội là hai mục tiêu song song của sự phát triển xã hội. Một mặt, mục tiêu tối thượng của phát triển kinh tế là nhằm phát triển con người, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội xét đến cùng là giải phóng những giá trị văn hóa tích cực nhất cho loài người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Mặt khác, tăng trưởng kinh tế đồng thời giúp con người có nhiều cơ hội, khả năng tiếp cận các giá trị văn hóa, đưa xã hội tiến lên phía trước. Do đó, việc xây dựng văn hóa trong kinh tế vì sự phát triển bền vững đất nước cần bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.

Tiến bộ xã hội là sự vận động của xã hội từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ lạc hậu đến văn minh, hiện đại. Đảng ta xác định, tiến bộ xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta gồm các tiêu chí sau đây: 1) Lực lượng sản xuất phát triển với hàm lượng khoa học ngày càng cao với quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế tăng trưởng nhanh, có chất lượng cao và bền vững; 2) Quyền làm chủ của nhân dân đối với mọi mặt của đời sống xã hội được bảo đảm; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong sạch, vững mạnh; dân chủ được phát huy; kỷ luật, kỷ cương được tôn trọng; 3) Văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ được mở mang, trình độ dân trí phát triển, quan hệ giữa con người với con người lành mạnh, những thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội được đẩy lùi; 4) Môi trường sinh thái được bảo vệ và cải thiện; 5) Con người có điều kiện từng bước phát triển về thể lực, trí tuệ, đạo đức, nghề nghiệp; có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; được cống hiến và hưởng thụ công bằng thành quả của sự phát triển.

Công bằng xã hội là một biểu hiện của tiến bộ xã hội. Nội hàm của khái niệm công bằng xã hội rất rộng, nên khái niệm này tuy rất thông dụng và phổ biến nhưng lại rất phức tạp và khó thống nhất trong việc đo lường.

Nhìn chung, công bằng xã hội là sự công bằng trong phân phối thu nhập, cơ hội phát triển và điều kiện thực hiện cơ hội phát triển. Như vậy, công bằng xã hội là khái niệm rất rộng bao gồm cả yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Thước đo chủ yếu về công bằng xã hội là chỉ số phát triển con người (HDI), đường cong Lorenz, hệ số GINI, mức độ nghèo khổ, mức độ thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người./.

__________________________________

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1996, t. 3, tr. 431.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1998, tr. 55.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, tr. 126.

GS. TS. Chu Văn Cấp
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Nguồn: TC Cộng sản)

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất