Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng

Xuất phát từ thực tiễn khách quan, trước yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng, nhất là khi trở thành đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo cả hệ thống chính trị trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã bổ sung, phát triển, từng bước hoàn thiện quan điểm, nguyên tắc, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng:

- Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng, là phương thức lãnh đạo quan trọng của các cấp ủy đảng. Công tác kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ của toàn Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của tổ chức đảng ở các cấp. Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểmtra, giám sát của Đảng. Lãnh đạo mà khôngkiểm tra, giám sát thì coi như không có lãnh đạo.

- Mục đích của công tác kiểm tra, giám sát nhằm "nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, sự đoàn kết thống nhất và bảo đảm thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, tránh các nguy cơ sai lầm về đường lối, quan liêu, xa dân của đảng cầm quyền"(2). Thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát để phát hiện những nhân tố mới, tích cực, khắc phục các mặt yếu kém, khuyết điểm, góp phần bổ sung, hoàn thiện và phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát bằng nghị quyết, quyết định, quy chế, quy trình, quy định để cụ thể hóa nghị quyết Đại hội, Điều lệ Đảng qua mỗi nhiệm kỳ. Các cấp ủy đảng vừa có nhiệm vụ lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát, vừa tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng.

- Hoạt động kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng là hoạt động lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, được tiến hành công khai, dân chủ, khách quan, thận trọng và chặt chẽ theo đúng nguyên tắc, phương pháp công tác đảng.

- Việc thi hành kỷ luật đảng nhằm bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng, giáo dục nâng cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, góp phần làm trong sạch đội ngũ đảng viên, bảo đảm cho các tổ chức đảng trong toàn Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh.

Cùng với quá trình đổi mới, hoàn thiện quan điểm, nguyên tắc, quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra các cấp được bổ sung và chính thức ghi vào Điều lệ Đảng. Từ nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện đường lối kháng chiến kiến quốc, xem xét những việc bất thường xảy ra; kiểm tra những vụ đảng viên làm trái Điều lệ, kỷ luật của Đảng, trái với đạo đức cách mạng và pháp luật của Nhà nước; kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng (thường gọi là kiểm tra chấp hành), đến kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên; kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng; giải quyết thư tố cáo và khiếu nại kỷ luật của tổ chức đảng và đảng viên; xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật; kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp.

Báo cáo về việc sửa đổi Điều lệ Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đề ra yêu cầu "Phải tăng cường kiểm tra và giám sát của Đảng đối với cán bộ và cơ quan nhà nước..."(3), từ đó trên thực tế các tổ chức đảng đã thực hiện nhiệm vụ giám sát. Đến Đại hội X của Đảng công tác giám sát được xác định là chức năng lãnh đạo của Đảng và là nhiệm vụ của các tổ chức đảng. Ủy ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ "Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp ủy và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương"(4).

Từ ngày đầu thành lập, Ban Kiểm tra Trung ương chỉ có 3 thành viên chuyên trách và một số ít cán bộ giúp việc, đến nay ngành kiểm tra đã có hơn 6 nghìn cán bộ chuyên trách và gần 70 nghìn cán bộ kiểm tra kiêm chức. Trong mọi thời kỳ cách mạng, dù chiến tranh hay hòa bình, khủng hoảng kinh tế hay phát triển, khó khăn hay thuận lợi, kể cả những thời điểm gay go, ác liệt nhất, đội ngũ các thế hệ cán bộ kiểm tra luôn tuyệt đối trung thành và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, nội bộ đoàn kết, vượt qua gian khổ, khắc phục khó khăn, chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, liên tục, bền bỉ, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Qua tổng kết công tác kiểm tra của Đảng trong 20 năm đổi mới (1986 - 2005) và kiểm điểm công tác kiểm tra, giám sát trong nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng, công tác kiểm tra, giám sát thời gian qua đã đạt được những kết quả nổi bật như sau:

- Từ năm 1986 đến nửa đầu nhiệm kỳ khóa X, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành gần 40 nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng làm cơ sở cho cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện nhiệm vụ. Đến nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng (Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 30-7-2007), tạo bước đột phá trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

- Ủy ban kiểm tra các cấp đã thực hiện tương đối toàn diện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng. Tập trung thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm và đạt được những kết quả quan trọng; chú trọng giải quyết kịp thời đơn, thư tố cáo, phục vụ công tác nhân sự bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, kiện toàn cấp ủy, các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp. Tăng cường thực hiện kiểm tra tài chính đảng đối với cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp, góp phần tích cực vào việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ Đảng. Ủy ban kiểm tra các cấp cũng đã chủ động tham mưu, giúp cấp ủy xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra hằng năm và làm nòng cốt trong việc giúp cấp ủy thực hiện công tác kiểm tra và thực hiện nhiệm vụ cấp ủy giao.

- Trong hai nhiệm kỳ Đại hội VI và VII của Đảng, ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra chấp hành đối với hơn 81 nghìn tổ chức đảng và gần 4,7 triệu lượt đảng viên. Từ nhiệm kỳ Đại hội VIII đến giữa nhiệm kỳ Đại hội X, ủy ban kiểm tra các cấp kiểm tra 44.066 tổ chức đảng cấp dưới có dấu hiệu vi phạm, kết luận có vi phạm phải thi hành kỷ luật 3.070 tổ chức đảng; kiểm tra 302.449 đảng viên có dấu hiệu vi phạm (trong đó có 92.867 cấp ủy viên các cấp), kết luận có vi phạm 170.981 trường hợp, phải thi hành kỷ luật 101.942 trường hợp. Giải quyết tố cáo 3.220 tổ chức đảng, kết luận có vi phạm 1.214 trường hợp, phải thi hành kỷ luật 474 trường hợp; giải quyết tố cáo 140.146 đảng viên, kết luận có vi phạm 80.122 trường hợp, phải thi hành kỷ luật 38.370 trường hợp. Giải quyết khiếu nại kỷ luật của đảng viên 18.068 trường hợp (chuẩn y hình thức kỷ luật 13.759; tăng hình thức kỷ luật 1.306; giảm hình thức kỷ luật 2.425; và xóa hình thức kỷ luật 578 trường hợp). Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra 317.351 tổ chức; kiểm tra việc thi hành kỷ luật trong Đảng 117.933 tổ chức. Kiểm tra thu chi ngân sách đảng và sản xuất, kinh doanh 4.415 tổ chức, kết luận có vi phạm 332 trường hợp; kiểm tra thu nộp đảng phí 424.269 tổ chức đảng, kết luận có vi phạm 22.471 trường hợp.

- Từ sau Đại hội IX của Đảng đến nay, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã chủ động tham mưu, đề xuất chương trình kiểm tra của Bộ Chính trị, Ban Bí thư hằng năm có trọng tâm, trọng điểm trên các lĩnh vực: Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị; cải cách hành chính, sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; tăng cường sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên khoáng sản, tổ chức các đoàn đi nước ngoài, quản lý và sử dụng quỹ ủng hộ khắc phục hậu quả thiên tai, xóa đói, giảm nghèo... Qua kiểm tra, giám sát, cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp đã kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong lãnh đạo, quản lý, những quy định không còn phù hợp, đề xuất với cấp có thẩm quyền kịp thời bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành mới cho phù hợp; góp phần bổ sung hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm, củng cố tổ chức đảng ở những nơi yếu kém, tạo được niềm tin của nhân dân và sự ổn định chính trị, xã hội.

- Giám sát là nhiệm vụ mới, trong nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng, cấp ủy, các ban của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp và chi bộ đã giám sát 25.395 tổ chức đảng và 75.064 đảng viên, phát hiện chuyển sang kiểm tra có dấu hiệu vi phạm 226 tổ chức đảng và 968 đảng viên. Thông qua hoạt động giám sát đã góp phần uốn nắn, chấn chỉnh, cảnh báo, giúp cho tổ chức đảng và đảng viên nêu cao ý thức thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra khuyết điểm, vi phạm. Ủy ban kiểm tra Trung ương đã chỉ đạo sơ kết chuyên đề công tác giám sát để rút kinh nghiệm, đề ra biện pháp thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.

- Cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện đúng phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục thi hành kỷ luật. Nhìn chung, việc thi hành kỷ luật trong Đảng được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm công tâm, khách quan, từng bước khắc phục tình trạng xử lý "nhẹ trên, nặng dưới", xử lý nội bộ, không xử lý hoặc để lâu để rồi xử lý nhẹ. Đa số các trường hợp vi phạm kỷ luật đảng được xem xét, xử lý bảo đảm nguyên tắc, đúng thủ tục, công tâm, khách quan nên số đảng viên khiếu nại giảm dần.

Tuy nhiên, qua tổng kết, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng thời gian qua còn những khuyết điểm, hạn chế đáng chú ý như:

- Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa coi trọng việc xây dựng và tổ chức thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch, sơ kết, tổng kết công tác kiểm tra, giám sát; chưa chú ý chỉ đạo kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường cán bộ đủ số lượng, bảo đảm chất lượng và điều kiện cần thiết cho ủy ban kiểm tra hoạt động. Chỉ đạo việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng còn thiếu kịp thời, đồng bộ. Vẫn còn tình trạng một số cấp ủy thiếu quan tâm, chưa tạo điều kiện, "khoán trắng" cho ủy ban kiểm tra cấp mình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hoặc can thiệp quá sâu, gây khó khăn cho hoạt động của ủy ban kiểm tra.

- Tính chủ động phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn và cảnh báo khuyết điểm, vi phạm còn hạn chế. Việc phát hiện sai phạm mới nảy sinh chưa nhiều, phát hiện tham nhũng, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, những đơn vị mất đoàn kết nội bộ, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống còn là khâu yếu của ủy ban kiểm tra các cấp. Công tác tham mưu, giúp cấp ủy của ủy ban kiểm tra các cấp nhìn chung vẫn chưa đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy; chưa chủ động đề xuất những vấn đề cơ bản, cấp bách, nổi cộm để cấp ủy tập trung chỉ đạo, giải quyết.

- Các ban của cấp ủy một số nơi mới thực hiện chức năng tham mưu cho cấp ủy, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của tổ chức mình theo quy định còn rất ít, chất lượng, hiệu quả còn hạn chế. Các ban cán sự đảng, đảng đoàn hầu hết chưa thực hiện được nhiệm vụ kiểm tra, nơi thực hiện được thì còn lúng túng về phương pháp và kết quả kiểm tra rất hạn chế.

- Một số ủy ban kiểm tra thực hiện chưa toàn diện, chưa có hiệu quả nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định, nhất là thực hiện kiểm tra cấp ủy viên cùng cấp có dấu hiệu vi phạm, kiểm tra tài chính của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp. Số tổ chức đảng và đảng viên qua các nhiệm kỳ Đại hội Đảng bị kỷ luật có giảm (thi hành kỷ luật đảng viên nhiệm kỳ VI là 159.306; nhiệm kỳ VII là 102.528; nhiệm kỳ VIII là 82.079; nhiệm kỳ IX là 75.517 và nửa đầu nhiệm kỳ X là 44.113 đảng viên), nhưng tính chất ngày càng tinh vi, tính chiến đấu của một bộ phận tổ chức đảng, đảng viên giảm sút. "Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng trong xã hội; sự yếu kém, làm chưa hết trách nhiệm trong quản lý của nhiều cấp, nhiều ngành, trên nhiều lĩnh vực... làm tăng thêm bức xúc trong nhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước"(5).

Qua thực tiễn đã rút ra những bài học kinh nghiệm sau:

Một là, không ngừng nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp và cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tác dụng của công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng. Cấp ủy, trước hết là người đứng đầu cấp ủy nhận thức đầy đủ, đích thân lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quan tâm sơ kết, tổng kết công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Ở đâu cấp ủy, tổ chức đảng làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, thì ở đó đoàn kết nội bộ được tăng cường, nguyên tắc tập trung dân chủ được phát huy, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được nâng cao, tổ chức đảng và đảng viên ít vi phạm kỷ luật.

Hai là, cấp ủy các cấp từ Ban Chấp hành Trung ương đến cấp ủy cơ sở lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát bằng việc ban hành nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định cụ thể để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra hoàn thành nhiệm vụ. Chỉ đạo việc xử lý kỷ luật phải nghiêm minh, chính xác, kịp thời đối với mọi tổ chức đảng, đảng viên vi phạm để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng.

Ba là, ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định; tích cực, chủ động tham mưu, giúp cấp ủy và thực hiện nhiệm vụ do cấp ủy giao; nâng cao ý thức, trách nhiệm và bản lĩnh trong thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. Thực hiện tốt quy chế phối hợp trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, nhất là với tổ chức đảng ở các cơ quan bảo vệ pháp luật để việc giải quyết những vụ việc có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, bảo đảm khách quan, chính xác, kịp thời và hiệu quả.

Bốn là, kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao; xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng; đổi mới cơ chế quản lý và có chính sách, chế độ đặc thù cho cán bộ kiểm tra.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội X và Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, từ nay đến Đại hội XI của Đảng, công tác kiểm tra, giám sát tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ chủ yếu sau:

1 - Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng về tầm quan trọng, mục đích, ý nghĩa, nội dung các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Tăng cường tuyên truyền phổ biến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng theo Thông báo kết luận số 226-TB/TW, ngày 3-3-2009 của Ban Bí thư, tạo sự chuyển biến căn bản trong nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân về hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng; sự đoàn kết, thống nhất, tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, sự đồng thuận trong xã hội. Thực hiện Quy chế về người phát ngôn, cung cấp hoặc thông báo thông tin về hoạt động kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

2 - Cấp ủy các cấp tiếp tục ban hành các quy định về công tác xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng để cụ thể hóa các nguyên tắc của Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nguyên tắc về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

- Nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật, tôn trọng và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ. Mỗi cấp ủy viên, cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần nguyên tắc tập trung dân chủ, sức mạnh là của tập thể, trí tuệ là của nhiều người thì trong Đảng mới không xảy ra tình trạng độc đoán, gia trưởng, chuyên quyền, lấn sâu nhau, cục bộ địa phương, dẫn đến đấu đá, tố cáo lẫn nhau, gây mất đoàn kết nội bộ. Muốn đoàn kết thì phải tôn trọng nhau, tin tưởng nhau, giúp đỡ nhau, hiểu biết nhau và chân thành với nhau. Trong Đảng có phát huy và mở rộng dân chủ thì ngoài xã hội dân chủ mới được thực hiện và không bị vi phạm.

- Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển và là một trong những nguyên tắc hoạt động của Đảng. Tự phê bình và phê bình tốt thì trong Đảng mới lành mạnh, có kỷ cương, ngoài xã hội mới có sự đồng thuận. Do vậy, việc kiểm điểm trong cấp ủy, trong chi bộ phải làm kỹ, thực sự trung thực, cầu thị; khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, "dễ người, dễ ta", không có chính kiến đang còn khá phổ biến trong sinh hoạt đảng.

- Bệnh quan liêu, xa dân, xa rời thực tế, thậm chí còn ngại tiếp xúc, đối thoại với dân... làm tổn hại đến mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân. Thực tiễn ở một số nước vừa qua cho thấy, đối với đảng cầm quyền mà mất lòng dân, xa rời quần chúng thì quần chúng không quan tâm đến cái sống, cái chết của đảng cầm quyền. Tình trạng lạm dụng quyền lực, để vợ (chồng), con lợi dụng chức, quyền (chạy dự án, nhận cổ phiếu của các doanh nghiệp...) làm tổn hại và xâm phạm lợi ích của nhân dân để thu vén cá nhân, làm giàu phi pháp, làm cho quan hệ giữa Đảng và quần chúng, giữa cán bộ lãnh đạo và quần chúng có lúc, có nơi trở nên căng thẳng. Ở một số nơi, một số cán bộ lãnh đạo mất uy tín, dần dần thành đối tượng dân công kích, chế giễu. Do vậy, mỗi cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo phải gần dân, tôn trọng dân, gắn bó, lắng nghe dân thì mới quy tụ được khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đem lại niềm tin cho dân, gắn bó máu thịt với dân.

Trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước đã cho chúng ta một bài học xương máu, chế độ nào khi được dân tin, dân mến, luôn luôn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân, chăm lo cuộc sống của dân thì chế độ đó mới được trường tồn (dân là nước, nước đẩy thuyền, nước cũng lật thuyền).

3 - Nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ủy ban kiểm tra các cấp là phục vụ đắc lực cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí; chống suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống.

- Tham nhũng "là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta"(6). Cấp ủy, cán bộ lãnh đạo các cấp phải là những người không đi cùng đường với bọn tham nhũng, "không đội trời chung" với bọn tham nhũng; phải có bản lĩnh, dũng khí và tính chiến đấu trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Đã chống tham nhũng thì không thể xử lý nội bộ, không xử lý hành chính, không kiểm điểm rút kinh nghiệm, mà phải xử lý theo pháp luật. Khi phát hiện có tham nhũng không được dung túng, bao che, mà phải xử lý kiên quyết, kịp thời, nghiêm minh, bất kể người đó là ai và ở cương vị nào. "Những đảng viên có dấu hiệu tham nhũng, lãng phí, uy tín giảm sút, dù cơ quan chức năng chưa kết luận được, cấp ủy vẫn phải xem xét, cân nhắc bố trí công việc khác cho phù hợp"(7) và không đưa vào cấp ủy, không bố trí công việc cao hơn.

- Hiện nay có một số cán bộ, đảng viên "tự diễn biến, tự chuyển hóa, tự đổi mới, tự suy thoái". Nên cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo, đảng viên phải là những cán bộ không suy thoái về chính trị, tư tưởng thì Đảng mới vững mạnh về chính trị, Đảng mới giữ vững vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của mình. Trong Đảng có trong sạch, vững mạnh, ngoài xã hội mới được lành mạnh, tệ nạn xã hội sẽ hạn chế.

Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền thì người lãnh đạo cấp cao, người có chức vụ càng cao phải thể hiện là tấm gương càng sáng, để cấp dưới và quần chúng noi theo; phải là người có uy tín trong Đảng, trong xã hội.

4 - Các cấp ủy phải lãnh đạo, tập trung giải quyết những vấn đề tồn đọng, nổi cộm, bức xúc mà cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm; giải quyết kịp thời đơn, thư tố cáo tổ chức đảng và đảng viên.

- Tổ chức đảng phải rà soát lại các vụ việc tồn đọng, có bức xúc, còn trăn trở trong Đảng để chỉ đạo thẩm tra, xác minh, kết luận giải quyết triệt để, nhất là việc phục vụ đại hội đảng bộ các cấp trong thời gian tới, như việc mất đoàn kết nội bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, vi phạm phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quản lý đất đai, xây dựng cơ bản, khai thác tài nguyên khoáng sản, mua sắm tài sản công...; kịp thời giải quyết các đơn, thư tố cáo, nhất là đối với cán bộ, đảng viên có liên quan đến nhân sự cấp ủy và đại biểu đi dự đại hội cấp trên. Tất cả phải được đặt lên bàn nghị sự, phải làm cho công khai, minh bạch, trường hợp cán bộ có sai phạm nghiêm trọng thì xử lý nghiêm minh và cử người thay trước khi tổ chức đại hội. Vì vậy, cấp ủy phải chuẩn bị tốt nhân sự cho việc bầu cử.

Đi đôi với việc lựa chọn những cán bộ có đủ đức, đủ tài vào cấp ủy khóa mới và đi dự đại hội cấp trên, chúng ta kiên quyết loại trừ cán bộ ham chức, ham quyền, ham danh, ham lợi, có biểu hiện tham nhũng; cán bộ suy thoái về chính trị, tư tưởng, suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống; cán bộ vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mất đoàn kết nội bộ, độc đoán, gia trưởng; cán bộ trong tự phê bình và phê bình còn nể nang, né tránh, ngại va chạm, "dĩ hòa vi quý"; cán bộ quan liêu, xa dân, không được đảng viên và nhân dân tín nhiệm; cán bộ nói không đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít.

5 - Ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường hơn nữa tính chủ động trong việc thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng, thực hiện chức năng tham mưu cho cấp ủy và nhiệm vụ cấp ủy giao. Tiếp tục đổi mới phương pháp kiểm tra, tăng cường sự chỉ đạo, hướng dẫn của ủy ban kiểm tra cấp trên đối với ủy ban kiểm tra cấp dưới; phối hợp với các ban của cấp ủy và các cơ quan có liên quan để tạo sự thống nhất, đồng bộ trong công tác kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong công tác giám sát, kiểm tra và thi hành kỷ luật để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra.

6 - Xây dựng và từng bước hoàn thiện các quy định về công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm, sử dụng và chính sách cán bộ kiểm tra; quy định tiêu chuẩn cán bộ theo ngạch, bậc của ngành kiểm tra, tiêu chuẩn và chế độ trách nhiệm chức danh cán bộ kiểm tra các cấp; quy tắc ứng xử của cán bộ kiểm tra, để tăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ kiểm tra có đủ bản lĩnh, dũng khí đấu tranh trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra.

- Thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các ngành, các cấp về làm công tác kiểm tra và luân chuyển cán bộ kiểm tra các cấp sang công tác ở các ngành, các cấp để đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ kiểm tra; thực hiện chính sách đối với cán bộ kiểm tra (thâm niên, phụ cấp nghề). Thực hiện thống nhất mô hình tổ chức bộ máy và cán bộ cơ quan ủy ban kiểm tra theo Quyết định số 222-QĐ/TW, ngày 8-5-2009 của Ban Bí thư quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu giúp việc tỉnh ủy, thành ủy. Có biên chế cán bộ kiểm tra chuyên trách cho ủy ban kiểm tra xã, phường, thị trấn, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp có từ 300 đảng viên trở lên theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Phát huy truyền thống: "Tuyệt đối trung thành, đoàn kết, trung thực, liêm khiết, kỷ cương và tận tụy", đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp ra sức tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng, đổi mới phương pháp công tác, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và của nhân dân./.
 

Nguyễn Văn Chi

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương

(Theo Tạp chí Cộng sản điện tử)

--------------------------------------


(1)
Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t 2, tr 126

(2) Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007, tr 63

(3) Văn kiện Đảng đã dẫn, t 21, tr 703

(4) Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 50 - 51

(5) Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr 170 - 171

(6) Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 12

(7) Văn kiện Hội nghị lần thứ ba đã dẫn, tr 27 - 28


Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất