Chủ Nhật, 16/6/2024

Xây dựng Đảng về đạo đức nhằm thực hiện mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Xây dựng Đảng về đạo đức nhằm thực hiện mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện ở một số nội dung sau:

Thứ nhất, ở tính hướng đích của xây dựng Đảng về đạo đức

Mục đích của xây dựng Đảng nói chung và xây dựng Đảng về đạo đức nói riêng chính là xây dựng một tổ chức có vị thế và tư cách lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu, làm tròn vai trò tiên phong của Đảng trong lãnh đạo giải phóng dân tộc và xây dựng, phát triển đất nước. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(1).

Để thực hiện được đường lối đó, Đảng phải xác định rõ mục đích phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vì lợi ích chính đáng của nhân dân và dân tộc mà chiến đấu. Đảng không có lợi ích riêng, không có lợi ích tự thân. Phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân chính là lý tưởng đạo đức cao đẹp nhất của một đảng cộng sản nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng và của toàn thể cán bộ, đảng viên của Đảng.

Thời kỳ lãnh đạo cách mạng khi chưa giành được chính quyền, xây dựng Đảng về đạo đức là xây dựng nền gốc, nhằm thể hiện bản chất tốt đẹp của Đảng, là yêu cầu trước hết, tạo thành sức mạnh nội sinh to lớn. Đạo đức là yếu tố làm nên sức mạnh của Đảng, tạo ra sự hấp dẫn của Đảng đối với nhân dân. Nếu thiếu đạo đức, Đảng sẽ không quy tụ và tập hợp được nhân dân và do đó, cũng không thể đủ khả năng để lãnh đạo cách mạng, dẫn dắt dân tộc tiến hành cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định, “muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”(2).

Khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng bước sang thời kỳ mới nhằm xây dựng Tổ quốc giàu mạnh, nhân dân tự do, ấm no, hạnh phúc, tức là Đảng đứng trước một bước chuyển biến mới, đòi hỏi phải giải quyết các mâu thuẫn cơ bản một cách sâu sắc, toàn diện và triệt để, khi ấy tất yếu phải tiến hành những biện pháp để xốc lại đội ngũ, chấn chỉnh lực lượng, gia tăng sức mạnh của Đảng. Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội để bảo vệ độc lập dân tộc, vì tự do, ấm no và hạnh phúc của nhân dân là một cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, tiềm lực trí tuệ, bản lĩnh của Đảng có đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ, có khả năng giải quyết những vấn đề mới và khó được hay không phụ thuộc rất lớn vào đạo đức của Đảng.

Mặt khác, đối với một đảng chính trị, niềm tin của nhân dân là cơ sở quan trọng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ trong nhân dân, do nhân dân xây dựng, ủng hộ, giúp đỡ và bảo vệ. Đảng mạnh từ cội nguồn sức mạnh của lòng dân, ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm tròn được sứ mệnh của mình. Xây dựng Đảng về đạo đức là điều kiện để gây dựng niềm tin, củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng sẽ chống được các căn bệnh: xa dân, khinh dân, sợ dân, không tin dân, không hiểu biết dân, không yêu thương nhân dân. Đó là nguyên nhân của căn bệnh quan liêu mệnh lệnh, xa rời nhân dân và sẽ dẫn đến kết quả là “hỏng việc”. Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời tự nguyện phục vụ nhân dân, vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận để gánh vác các nhiệm vụ mà nhân dân ủy thác.

Thứ hai, ở các quy tắc và chuẩn mực đạo đức của tổ chức Đảng

Đảng là một tổ chức thống nhất, một khối đoàn kết và thống nhất để lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhân dân. Mỗi đảng viên là một hợp phần làm thành tổ chức chung của Đảng. Hình ảnh đạo đức của mỗi đảng viên cũng là một hợp phần trong hình ảnh đạo đức chung của toàn Đảng. Đạo đức của toàn Đảng được biểu hiện cụ thể bằng đạo đức của đảng viên. Do đó, xây dựng đạo đức của tổ chức Đảng trước hết phải quan tâm xây dựng quy tắc và chuẩn mực đạo đức của tổ chức Đảng.

Trong xây dựng các quy tắc, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định xây dựng phẩm chất tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, của đất nước và nhân dân lên trên hết, trước hết. Như vậy, bảo vệ độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân chính là một nội dung trong tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu của người cán bộ, đảng viên.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh bàn về vấn đề xây dựng đạo đức của tổ chức đảng với cách tiếp cận về “tiêu chí của một đảng chân chính cách mạng”, gồm 12 điều, trong đó có quy tắc, chuẩn mực đạo đức quan trọng đó là vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Điều đó được thể hiện cụ thể ở những điểm sau:

Trong đường lối chính trị. Đường lối chính trị đúng đắn và mang tính đạo đức của Đảng phải dựa trên học thuyết Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta, đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại. Đường lối đó được xác định là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đó là điểm căn cốt, là vấn đề then chốt chi phối mọi tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh, cũng chính là tôn chỉ, mục đích của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, chính vì vậy, Đảng đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. Đảng khởi xướng, lãnh đạo và tổ chức thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới giàu mạnh, văn minh. Đó là một sứ mệnh vẻ vang, là một sự nghiệp nhân văn, cao cả, nhưng cũng là một trọng trách dân tộc ủy thác cho Đảng. Do đó, Đảng phải hội tụ những giá trị tinh hoa của dân tộc và thời đại, trong đó trước hết là đạo đức.

Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập chuyên đề toàn khóa về

Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập chuyên đề toàn khóa về "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, chuyên đề năm 2021.

Trong xây dựng và củng cố nền tảng lý luận của Đảng chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là học thuyết chân chính nhất, là vũ khí tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, giúp trang bị quan điểm và phương pháp đúng đắn để nhận thức bản chất, quy luật vận động và phát triển của xã hội. Không những thế, chủ nghĩa Mác - Lênin còn là học thuyết vì con người, hướng đến giải phóng con người toàn diện, triệt để. Đó cũng chính là lý tưởng đạo đức cao đẹp nhất. Lý luận đó nuôi dưỡng con người có ý thức tôn trọng và phục tùng lợi ích của tập thể; hướng tới những giá trị tốt đẹp, xây dựng con người và đạo đức mới xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc, đứng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng và cán bộ, đảng viên có bản lĩnh đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, vụ lợi, thay vào đó là hình thành, củng cố, thúc đẩy mỗi cá nhân thực hiện những hành vi đạo đức tích cực, tạo ra những giá trị có ích cho cộng đồng và xã hội. Hồ Chí Minh khẳng định: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được(3). Do đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân, thì các tổ chức đảng và cán bộ đảng viên phải thấm nhuần lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin trong tư tưởng cũng như trong hành động.

Trong mối quan hệ của Đảng với nhân dân. Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, lãnh đạo tức là phục vụ nhân dân. Trên tất cả là Đảng phải làm tròn nhiệm vụ là người lãnh đạo, là công bộc, làm đày tớ cho nhân dân. Trong 12 điều của đảng cách mạng chân chính, nói về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, Người đã nêu lên 3 nội dung: Đảng phải phát huy vai trò của nhân dân, “Phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị”. Đảng phải chăm lo lợi ích của nhân dân, phải luôn luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng, mọi công tác luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Và Đảng phải xây dựng niềm tin của nhân dân, “phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hoá ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”.

Thứ ba, trong các quy tắc và chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên

Trong xây dựng các quy tắc, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định xây dựng phẩm chất tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, của đất nước và nhân dân lên trên hết, trước hết. Như vậy, bảo vệ độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân chính là một nội dung trong tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu của người cán bộ, đảng viên.

Trong tác phẩm Cách xem xét việc đời và cách tu dưỡng của người cách mạng (1949), phẩm chất này được Hồ Chí Minh gọi đó là “Đảng tính”. Người viết: “Bất kỳ bao giờ, bất kỳ việc gì, đều phải tính đến lợi ích chung của Đảng, phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết, việc của cá nhân và lợi ích của cá nhân phải để lại sau. Đó là nguyên tắc tối cao của Đảng. Mỗi một đảng viên phải ghi chắc điều đó. Chúng ta gọi nó là Đảng tính(4). Người đảng viên ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, không có lợi ích gì khác. Người giải thích, lợi ích của Đảng và lợi ích của dân tộc là thống nhất, trong lợi ích của dân tộc có lợi ích của Đảng. Người đảng viên trước tiên phải tuyệt đối trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, “tận trung với nước, tận hiếu với dân”. Trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh, phải luôn đặt lợi ích của Đảng lên trên lợi ích cá nhân, lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích của Đảng, lợi ích bộ phận phải phục tùng lợi ích toàn cục, lợi ích tạm thời phải phục tùng lợi ích lâu dài.

Trong mối quan hệ lợi ích đó, Hồ Chí Minh yêu cầu, nếu lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân thì phải hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Đảng, thậm chí kể cả tính mệnh. Nếu lợi ích cá nhân phù hợp với lợi ích của Đảng thì đó là lợi ích chính đáng. Người giải thích, đảng viên và cán bộ phải luôn ý thức rằng, chỉ có hết lòng vì Tổ quốc, vì nhân dân, thì mới được nhân dân tin yêu, mới giữ được vai trò lãnh đạo và mới thực hiện được sứ mệnh. Trong thực tế lịch sử, biết bao thế hệ đảng viên và cán bộ một lòng đi theo Đảng, hy sinh xương máu, tính mạng vì lợi ích của Đảng và lợi ích của dân tộc. Họ được nhân dân cảm phục, trân trọng, được nhân dân tin tưởng, tin yêu, tự nguyện noi theo, đi theo, tự nguyện thừa nhận vai trò lãnh đạo của đảng viên và tổ chức đảng.

Trong bài Đạo đức cách mạng, “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng” được Hồ Chí Minh xác định là “điều chủ chốt nhất”, là “tiêu chuẩn số một”(5) của người cách mạng. Người đảng viên khi đã tự nguyện vào Đảng là tự nguyện cống hiến, tự nguyện hy sinh và phải nhận thức rõ ràng về trách nhiệm của mình đó là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng; tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và dân tộc, thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nếu không xác định được mục tiêu, xây dựng được ý chí quyết tâm đó sẽ khó giữ được bản lĩnh chính trị trước những khó khăn hay những cám dỗ trong cuộc sống thường ngày.

Thứ tư, phát huy vai trò tích cực, chủ động của nhân dân trong xây dựng Đảng về đạo đức

Để Đảng có thể thực hiện mục tiêu độc lập, tự do và hạnh phúc cho nhân dân thì Đảng phải trong sạch, vững mạnh. Muốn trong sạch, vững mạnh, đi đúng đướng lối cần phát huy vai trò tích cực, chủ động của nhân dân trong xây dựng Đảng nói chung, xây dựng Đảng về đạo đức nói riêng.

Theo Hồ Chí Minh, nhân dân giúp xây dựng Đảng bằng cách: hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, giúp Đảng nắm rõ tình hình trong nhân dân, đối với công tác của Đảng thì thật thà phê bình và nêu ý kiến của mình. Người khẳng định, tự phê bình và phê bình trong Đảng là cần, nhưng cần hơn là tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình. “Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(6).

Nhân dân là một bộ phận quan trọng trong việc xây dựng, bổ sung và phát triển những chuẩn mực đạo đức để Đảng thích ứng với những thay đổi của thực tiễn trong quá trình lãnh đạo. Nhân dân cũng có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý những vi phạm đạo đức của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đối với việc xây dựng Đảng về đạo đức, việc tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát trực tiếp của người dân.

Muốn công tác xây dựng Đảng về đạo đức đạt được hiệu quả cao, Hồ Chí Minh cho rằng, cần phải tuyên truyền, nâng cao nhận thức của nhân dân về vị trí, vai trò của họ trong việc xây dựng Đảng về đạo đức: “Chúng ta phải phát động tư tưởng của quần chúng, làm cho quần chúng khinh ghét tội tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp” .

Trên cương vị người lãnh đạo Đảng, Hồ Chí Minh quán triệt nguyên tắc: Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai với nhân dân. Mọi chủ trương, đường lối thuộc tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... đều được Người xem xét và giải quyết từ vị thế và vai trò của người dân đó là nhân dân là chủ và nhân dân làm chủ. Để người dân được hưởng quyền dân chủ trong thực tế và thực hiện quyền làm chủ của mình, góp phần tích cực vào công tác xây dựng Đảng nói chung và xây dựng Đảng về đạo đức nói riêng, Hồ Chí Minh cho rằng, cần phải hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, tạo cơ chế để người dân nói tiếng nói của mình, đồng thời, nâng cao năng lực làm chủ của nhân dân, nâng cao trình độ dân trí, bồi dưỡng văn hóa chính trị, phát triển tính tích cực, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; khuyến khích nhân dân giám sát công việc của các cơ quan nhà nước. 

Thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình, tiếp thu ý kiến trước nhân dân. Tự phê bình và phê bình là “vũ khí sắc bén, góp phần phát hiện sớm những biểu hiện của nghĩa cá nhân, những sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên để kịp thời chỉnh đốn, sửa chữa. Theo Hồ Chí Minh, phê bình và tự phê bình không chỉ được tiến hành trong nội bộ Đảng, giữa những người đồng chí với nhau mà quan trọng hơn cả đó là phát huy vai trò tích cực của nhân dân trong tự phê bình và phê bình. Người viết: “Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi”(7). Trong rèn luyện phẩm cách cán bộ, đảng viên, nên để cho dân chúng phê bình, dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ thì nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng. Coi trọng nhân dân cũng để chống thói hư, tất xấu của cán bộ, đảng viên.

Có thể nói, xây dựng Đảng về đạo đức nhằm thực hiện mục tiêu độc lập, tự do và hạnh phúc cho nhân dân trở thành nét đẹp văn hóa, tạo nên sự hấp dẫn, sức sống lâu bền, sức mạnh nội sinh của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài học này có ý nghĩa sâu sắc đối với công tác xây dựng Đảng trong mọi giai đoạn.

Nhân dân là một bộ phận quan trọng trong việc xây dựng, bổ sung và phát triển những chuẩn mực đạo đức để Đảng thích ứng với những thay đổi của thực tiễn trong quá trình lãnh đạoNhân dân cũng có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý những vi phạm đạo đức của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đối với việc xây dựng Đảng về đạo đức, việc tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát trực tiếp của người dân.

 

TS. Trần Thị Hợi
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

---------------------- 

(1) (2) (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.5, tr.289, 292 - 293, 337.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 668.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 290.

(5) (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr.603, 609.

 

 

 

Phản hồi

Các tin khác

Thư viện ảnh

Liên kết website

Mới nhất